Tôn trọng sự thật một giai đoạn lịch sử

       Tháng 4, trong khi cả dân tộc chuẩn bị kỷ niệm ngày chiến thắng, thống nhất non sông thì một bộ phận người Việt hải ngoại vẫn định kiến hận thù, tiếp tục lặp lại các điệp khúc chống phá cực đoan. Hơn bao giờ hết, vấn đề hòa giải, hòa hợp dân tộc càng được đặt ra cấp thiết bởi cùng một đất mẹ, chúng ta không thể kéo dài tình trạng này. Vết thương còn có ngày lành sẹo, bầu bí một giàn, lòng ái quốc chính là cội nguồn cho tinh thần hòa giải, hòa hợp dân tộc, hướng về đất mẹ. 

       Trong bài chúng tôi đưa ra góc nhìn vấn đề hòa giải, hòa hợp dân tộc, tìm hiểu thực tế những hoạt động hòa giải cũng như chính kiến, sẻ chia của những người từng ở bên kia chiến tuyến, nay hướng về Đất Mẹ… Từ đó, chúng tôi đề xuất các giải pháp, quan điểm để đảm bảo thực hiện hòa giải, hòa hợp dân tộc được thực chất hơn cũng như phản bác quan điểm lợi dụng danh nghĩa này để chống phá đất nước của các thế lực thù địch.

       Hành động chống phá “đến hẹn”

       Vào những ngày tháng 4 lịch sử, trong khi đồng bào dù ở trong hay ngoài nước đều một lòng hướng về Tổ quốc, bằng những hoạt động khác nhau kỷ niệm ngày Bắc Nam thống nhất, núi sông liền một dải thì một bộ phận người Việt định cư tại Mỹ và một số nơi khác lại tiếp tục điệp khúc chống đối cực đoan, xới lại sự hận thù. Một số nhóm người Việt tại California tụ tập dưới biểu ngữ “tưởng niệm ngày quốc hận”, treo cờ ba que và nghe “diễn văn tưởng niệm” với lời lẽ nặng sự hận thù.
       Đây là hành động có tính thường niên của bộ phận người Việt ra đi sau 30/4/1975, tới nay vẫn ôm chặt tư duy cũ, chống đối và định kiến về đất nước. Họ được cổ súy bởi những mắt xích vốn là người Việt cực đoan, số này “lĩnh ấn tiên phong” trong việc hô hào, kêu gọi tụ tập, tuần hành và các hành động thành lập, tham gia các tổ chức phản động tại hải ngoại.
       Cũng vì sự vận động của số chống đối này mà tháng 8/2009, tại thành phố Westminster, họ thông qua cái gọi là “nghị quyết 4257” về việc coi ngày thứ bảy cuối cùng mỗi tháng tư là "Ngày Thuyền nhân Việt Nam". Ở cấp tiểu bang California thì đưa ra cái gọi là “Nghị quyết ACR-40”, công bố tháng tư là tháng của người Mỹ gốc Việt với 6 điểm, trong đó tung hô những khẩu hiệu như “nỗ lực tranh đấu vì lý tưởng tự do”, coi lá cờ vàng ba sọc đỏ (cờ ba que) là “biểu tượng của người Mỹ gốc Việt”; lấy tuần lễ từ 24 đến 30/4 hằng năm là “tuần tưởng niệm tháng tư đen”…
       Mới đây, đạo luật S-219 về cái gọi là “hành trình đến tự do” được Thượng nghị sĩ gốc Việt Ngô Thanh Hải bảo trợ và tìm cách vận động để Quốc hội Canada thông qua. Điều đáng nói là đạo luật do người Canada gốc Việt soạn thảo, vận động này tiếp tục khoét vào sự hận thù khi coi ngày 30/4 hàng năm là ngày để kỷ niệm làn sóng người tị nạn Việt Nam đã được Canada đón nhận sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ và chiến tranh Việt Nam chấm dứt.
       30/4 đã là ngày đại lễ của cộng đồng người Việt Nam ở bất cứ nơi đâu, ngày đánh dấu thắng lợi hoàn toàn của cuộc chiến tranh vệ quốc, cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và các thế lực phản động, tay sai, đưa giang sơn thu về một mối. Bản chất cuộc chiến vệ quốc của Việt Nam là sự thật lịch sử. Sau 40 năm, Việt-Mỹ từ hai bên chiến tuyến, từ đối đầu, đối súng đã trở thành đối tác, bình thường hóa quan hệ từ 1995 và tới nay đã xác lập quan hệ đối tác toàn diện. 40 năm, những người lính Việt Nam Cộng hòa xưa kia đã ở sườn núi của cuộc đời hoặc khuất núi theo quy luật tự nhiên. Chừng đó thời gian là thêm một, hai thế hệ nữa sinh ra, trưởng thành, đủ để nhận thức về cuộc sống.Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình nêu rõ, S-219 là một đạo luật hoàn toàn sai trái, chứa đựng nhiều nội dung xuyên tạc ý nghĩa ngày 30/4 và cả lịch sử cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế, trong đó có Canada ủng hộ.
       Câu hỏi đặt ra: Với quãng thời gian như vậy, với bối cảnh mới, tại sao hiềm khích, hận thù vẫn còn, vẫn dai dẳng trong bộ phận người Việt hải ngoại? Tại sao chúng ta cùng đất mẹ, bầu bí một giàn lại chưa thể hòa hợp? Nguyên nhân do đâu và làm thế nào để hòa hợp dân tộc là vấn đề không mới nhưng rất cần được hóa giải và bây giờ là lúc hội đủ nhiều điều kiện để làm được điều đó.

       Truyền thống nhân nghĩa

       Khi nhìn lại thực tế lịch sử, một số thông tin hải ngoại đã bóp méo sự thực, quy chụp rằng do chúng ta đối xử “thậm tệ” với bên thua cuộc và không hề quan tâm việc hòa giải, hòa hợp dân tộc. Số này cũng ngụy biện khi áp đặt tâm lý “ăn thua” của người Việt, rằng tuy “cùng một mẹ” nhưng người Việt Nam mang nặng tư tưởng hận thù, không thể dung hòa và vu cáo Đảng, Nhà nước ta “bỏ rơi” kiều bào ở Mỹ cũng như ở nước ngoài nói chung.
       Đây là những quan điểm “mượn gió bẻ măng”, lộ rõ ý đồ chống phá đất nước, mượn cớ hiện tượng người Việt Nam di cư sang Mỹ nói riêng, ra nước ngoài định cư nói chung để phê phán, đả phá chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước ta, tìm cách tung tin hỏa mù, vu cáo để ly gián, gây chia rẽ trong các tầng lớp nhân dân cũng như giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, giữa người dân trong nước với kiều bào…
       Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta thời kỳ nào cũng chứng kiến những kẻ hai lòng theo giặc, phản triều đình nhưng cách xử sự cũng căn cứ tính chất, mức độ, dựa trên nền tảng nhân nghĩa “đánh người chạy đi, không ai đánh người chạy lại”.Thực chất, hòa hiếu, hòa hợp dân tộc chính là truyền thống nhân nghĩa, nhân văn có từ lâu đời của dân tộc ta. Sử cũ chép rằng, sau khi đánh thắng 3 đợt xâm lược của giặc Nguyên – Mông, nhà Trần họp các quan lại xem việc định công, xét tội. Số là khi quân Nguyên đang cường thịnh, triều thần lắm kẻ hai lòng, theo giặc. Sau khi giặc thua chạy về phương Bắc, triều đình bắt được biểu hàng của các quan. Đình thần muốn lục ra để trị tội nhưng Thượng hoàng Nhân Tông nghĩ rằng, làm vậy là hạ sách bèn sai đốt tráp đi cho yên lòng mọi người, duy chỉ kẻ nào theo giặc, thực sự nguy hại thì mới xử lý. Quân dân cũng theo cách đó mà xử sự.
       Từ năm 1946, Bác Hồ đã nói khi chúng ta vừa giành chính quyền từ cuộc khởi nghĩa cách mạng Tháng Tám rằng, khi chống Pháp, cũng có những người Việt đứng ở bên phía Pháp. Bác nói “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi, 5 ngón tay cũng có ngón ngắn ngón dài, nhưng ngắn dài đều hợp ở nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác. Nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng, đại độ, ta phải nhận ra rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường ta phải lấy tinh thân ái mà cảm hóa họ, có như thế mới thành đoàn kết. Có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn vẻ vang”.
       Trong thư chúc Tết kiều bào đầu năm 1946 - năm đầu tiên khi nước nhà vừa giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá cao tấm lòng yêu mến cố hương, luôn hướng về Tổ quốc của kiều bào và khẳng định: “Tổ quốc và Chính phủ cũng luôn luôn nhớ thương các đồng bào, như bố mẹ thương nhớ những người con đi vắng. Đó là nhân tâm thiên lý, đó là tình nghĩa một nhà như thế”.

Những kẻ đi ngược lại giáo lý công giáo

        Đạo Công giáo từ hàng ngàn năm nay vẫn khuyên nhủ con người tránh các tội lỗi, đặc biệt là bảy mối tội đầu: kiêu ngạo, tham lam, dâm dục, thù hằn, tham ăn, đố kị, lười biếng thờ phụng Thiên Chúa.

        Trong khi đa số người theo đạo Thiên Chúa vẫn luôn chỉnh nắn, rèn giũa mình theo những điều giáo lý, giáo luật đã dạy thì một số người lại cố tình làm trái, phạm những điều cấm kỵ.
        Những gì một số cá nhân linh mục của Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam nói và làm thời gian qua vẫn khiến người ta phải đặt câu hỏi, tại sao đã trót theo đạo, thờ phụng Thiên Chúa mà lại làm những điều gây hại cho người, cho xã hội?
        Dòng Chúa Cứu Thế thường rao giảng Tin Mừng cho người nghèo, cô thân. Phương châm của hội dòng là “tất cả cho người nghèo”. Nhiều tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế phụ trách các hoạt động tông đồ đặc biệt như quản nhiệm các giáo xứ theo yêu cầu của các giám mục sở tại, tông đồ cho người câm điếc, tật nguyền, tuyên úy cho người di dân.
        Nếu theo đúng bổn phận mà Dòng Chúa Cứu Thế đặt ra, việc cần làm là rao giảng Tin Mừng cho những người nghèo khổ và quản nhiệm người khuyết tật, đói khổ, đến với người bị bỏ rơi, những người ở đáy cùng của xã hội, bệnh nhân phong, AIDS…
        Thế nhưng trong quá trình hoạt động, một số tu sĩ không ngừng đòi hỏi thêm nhiều quyền lợi để phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Điều này phạm phải thói tham lam được nhắc đến trong Kinh Thánh.
        Một số linh mục biến địa điểm trong khuôn viên nhà thờ thành nơi “hỗ trợ pháp lý cho lực lượng dân oan và dân chủ”, tổ chức huấn luyện kỹ năng chống chính quyền, hội thảo xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền trong nước, cầu nguyện “công lý” cho các tội phạm hình sự bị bắt và xử lý...
        Truyền thông Dòng Chúa Cứu Thế do linh mục Lê Ngọc Thanh điều hành dành hẳn chuyên mục đưa tin, phỏng vấn, cập nhật hoạt động chống Nhà nước của những cá nhân, hội nhóm gắn mác “đấu tranh dân chủ”.
        Thời gian gần đây, xảy ra một số hoạt động mang tính kích động từ một số linh mục... Số này đã kêu gọi giáo dân xuống đường biểu tình chống Formosa. Sự nóng giận ban đầu của các vị linh mục này phần nào có thể thông cảm được khi xảy ra hiện trạng cá chết ở 4 tỉnh miền Trung.
        Song, khi chính quyền đã làm rõ, có kết luận cụ thể và áp dụng biện pháp xử lí nghiêm minh, Formosa buộc phải bồi thường thiệt hại thì thay vì trấn an giáo dân, linh mục Đặng Hữu Nam lại kêu gọi người dân xuống đường “phô trương thanh thế”.
        Qua những clip do người dân quay được cho thấy, đứng trước cổng nhà máy Formosa, linh mục Nam đã có những lời lẽ và hành động kích động người dân, tuyên bố đòi “san phẳng Formosa”.
        Khi bị kiểm tra hành chính, ông nhiều lần đe dọa sẽ đề nghị Đức Cha (Giám mục Nguyễn Thái Hợp) huy động giáo dân các giáo xứ tại khu vực lân cận đến “yểm trợ”, gây sức ép với chính quyền.
        Chưa kể đến hành động bạo lực nhằm vào lực lượng bảo vệ, với việc tuyên bố hùng hồn như vậy, thời gian vừa qua, linh mục Đặng Hữu Nam đã tổ chức cho nhiều giáo dân kéo từ Quỳnh Lưu, Nghệ An vào Kỳ Anh, Hà Tĩnh để nộp đơn kiện công ty Formosa dưới danh nghĩa vì lợi ích của quần chúng nhân dân vùng ven biển.
        Nhưng thực chất không phải là đi nộp đơn khởi kiện Formosa vì lợi ích của nhân dân mà mục đích chính là gây rối an ninh, trật tự, tụ tập đông người kéo lên trụ sở chính quyền để kích động quần chúng giáo dân chống đối chính quyền.
        Trong quá trình đi nộp đơn kiện, linh mục Đặng Hữu Nam đã có nhiều lời lẽ, hành động vu cáo chính quyền địa phương, tổ chức cho giáo dân tại giáo tại Giáo xứ Phú Yên – Giáo phận Vinh chuẩn bị nhiều băng rôn khẩu hiệu với nội dung đả kích chính quyền, chống đối, nói xấu Đảng và Nhà nước để sử dụng trong quá trình đi nộp đơn kiện.
        Với những việc làm như vậy cho thấy, mục đích của vị linh mục này chẳng phải vì lợi ích của giáo dân hay nhân dân vùng nào hết mà vụ việc Formosa đang trở thành cái cớ để ông ta tập trung đông người, gây rối an ninh, trật tự, tạo cớ chống chính quyền.
        Suy cho cùng, dù khoác lên mình những lí do có tính bao biện không chỉ gây bức xúc dư luận nhân dân mà chính những việc làm như vậy của một số linh mục Dòng Chúa Cứu Thế đã phạm những điều Kinh Thánh nói đến, đồng thời vi phạm luật pháp, gây mất ổn định an ninh, trật tự tại địa phương.
        Vì vậy, thay việc cổ súy theo ý đồ giật dây của những đối tượng xấu trên mạng, người dân đã nêu cao ý thức cảnh giác, nhận rõ và lên án, tẩy chay.

Cảnh giác, đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, phản động

   Sau Đại hội XII của Đảng, trong khi Đảng và Nhà nước ta, nhân dân ta triển khai nhiều hoạt động đưa Nghị quyết Đại hội XII vào cuộc sống, trong đó có cuộc đấu tranh chống tham nhũng, chống “lợi ích nhóm”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thì họ cho rằng, đó là những cuộc “đấu đá” nội bộ, giữa “nhóm lợi ích mới” với “nhóm lợi ích cũ”. 

    Đáng chú ý gần đây là những “ý kiến”, “bình luận” về Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) của những gương mặt quen thuộc trong Hội thảo “Bàn tròn của BBC”. Có kẻ cho rằng: “Tất cả những chuyện về suy thoái, chuyện về “diễn biến”, rồi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hay điều gì đó, thì chỉ nhằm “triệt phe phái”, là “tranh nhau ghế”; rằng Hội nghị Trung ương 4 là biểu hiện của sự “bế tắc” giải pháp cho các vấn đề xã hội. Có kẻ thì qua “Thư ngỏ” khẳng định rằng, “tham nhũng thuộc về bản chất của chế độ, không thể cải tạo, cần phải làm một cuộc cách mạng thay đổi nó về bản chất; tức là phải hủy bỏ cái chế độ sinh ra nó, chế độ độc tài đơn đảng…”. Có thể khẳng định rằng, tất cả những luận điệu của họ đều xuyên tạc sự thật, phá hoại chính cuộc đấu tranh này; đồng thời nhằm chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước, mối quan hệ giữa Đảng ta với nhân dân. Và mục tiêu cuối cùng của chúng là chuyển hóa chế độ ta sang mô hình “dân chủ, nhân quyền”, “đa nguyên, đa đảng” ngoại nhập. Trước hết, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng những vụ việc, sự kiện cụ thể để xuyên tạc, để “lái” nhận thức xã hội về cuộc đấu tranh chống tham nhũng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của Đảng ta sang mục tiêu phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.  

    Đại hội XII của Đảng đã phân tích, nhận thức sâu sắc hơn sự nguy hiểm của tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tại đại hội này, Đảng ta đã xem cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lợi ích nhóm là một trong những vấn đề quan trọng nhất của nhiệm kỳ mới. Với tinh thần thẳng thắn, Báo cáo Chính trị tại đại hội đã chỉ ra rằng: Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp nghiêm trọng; “bốn nguy cơ” mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (năm 1994) nêu lên; tình trạng tham nhũng, lãng phí, “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vẫn tồn tại, có mặt còn diễn biến phức tạp hơn trước. Hội nghị Trung ương 4 khóa XII thêm một lần nữa tái khẳng định quan điểm này ở mức độ cao hơn. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phân tích tính chất nguy hại của sự suy thoái về mặt chính trị: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay, hoặc câu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”. Thời gian qua, thực hiện chỉ đạo của Trung ương Đảng, nhiều vụ án lớn đã được đưa ra xét xử, như vụ án Ngân hàng Xây dựng Việt Nam do Phạm Công Danh (nguyên Chủ tịch HĐQT) chủ mưu đã được Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh đưa ra xét xử trong tháng 7-2016, với 36 bị cáo. Phạm Công Danh và đồng phạm đã làm thất thoát hơn 9.000 tỷ đồng. Sau khi xem xét, tranh tụng công khai, tòa đã tuyên phạt Phạm Công Danh 30 năm tù giam, thu hồi nhiều tiền, tài sản khắc phục hậu quả, trong đó Nhà nước truy thu hàng nghìn tỷ đồng. Về phí giao thông, theo phản ảnh của người dân và báo chí trên một số tuyến đường cao tốc (thực hiện theo hình thức BOT) nhà đầu tư thu phí không hợp lý. Chính phủ đã yêu cầu Bộ Giao thông vận tải tổng kết và đánh giá lại 5 năm thực hiện xã hội hóa đầu tư hạ tầng giao thông, bao gồm tiến hành kiểm toán, quyết toán chặt chẽ các dự án BOT để xác định mức phí và thời hạn thu phí…; kiểm tra phí đường bộ theo phương thức BOT và yêu cầu nhà đầu tư phải minh bạch về chi phí, thu phí trước công luận. Trước mắt, Chính phủ quyết định chưa tăng phí, đồng thời giảm phí trên một số tuyến đường. Những quyết định đó được người dân và doanh nghiệp đồng tình ủng hộ, đánh giá cao. 

      Thứ hai, những thông tin mà “các nhà hoạt động xã hội”, “người yêu nước” tán phát trên thế giới ảo không chỉ nhằm xuyên tạc sự thật, mà còn nhằm gây chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước ta, phá hoại mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Chẳng hạn, khi Chính phủ yêu cầu cơ quan chức năng thanh tra toàn diện một số dự án có dấu hiệu vi phạm quy định về bảo vệ môi trường, hoặc mờ ám về tài chính gây thất thoát hàng nghìn tỷ đồng ngân sách nhà nước…, thì họ cho rằng, những dự án này sở dĩ bị thanh tra, kiểm tra là do có liên quan đến những người này, người khác trong nhiệm kỳ trước. Về tăng cường công tác quản lý cán bộ, theo tinh thần Đại hội XII của Đảng, gần đây đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo cơ quan chức năng của Đảng làm rõ hiện tượng cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định của Nhà nước, do báo chí phát hiện. Đó là việc cơ quan chức năng cấp “biển xanh” cho xe tư nhân để phục vụ ông Trịnh Xuân Thanh ở tỉnh Hậu Giang. Thực hiện sự chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, cơ quan Đảng các cấp đã vào cuộc, làm rõ những sai trái của cá nhân, tổ chức; từ tạm dừng bầu cử chức danh Phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang, không công nhận tư cách Đại biểu Quốc hội, đến khai trừ Trịnh Xuân Thanh ra khỏi Đảng... Vừa qua, Bộ Công an đã phát lệnh truy nã quốc tế với đối tượng này; cơ quan chức năng cũng đã khởi tố vụ án hình sự “cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”, điều tra khoản thua lỗ gần 3.300 tỷ đồng tại Tổng công ty Cổ phần Xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC) thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam. Bốn cựu lãnh đạo của PVC, trong đó có Vũ Đức Thuận (ủy viên HĐQT kiêm tổng giám đốc) bị truy cứu trách nhiệm hình sự cùng tội danh với Trịnh Xuân Thanh. Hiện nay, các cơ quan chức năng đang tiếp tục làm rõ quá trình “chạy chức, chạy quyền”, việc thuyên chuyển, đề bạt cán bộ có đúng quy trình, có vòng vo, khuất tất hay không… Chẳng lẽ, các hoạt động điều tra, xét xử của các cơ quan chức năng các cấp nói trên chỉ vì để “trả thù, triệt hạ tay chân” của người này, người khác? 

    Cuối cùng là, các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc cuộc đấu tranh chống tham nhũng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch, của các “nhà hoạt động xã hội”, “người yêu nước” đều nhằm phá hoại niềm tin của nhân dân ta đối với sự lãnh đạo của Đảng, hòng chuyển hóa chế độ ta sang mô hình “dân chủ, nhân quyền”, “đa nguyên, đa đảng” ngoại nhập. 

   Thực tế cho thấy, sự suy thoái về đạo đức, lối sống dẫn đến suy thoái về tư tưởng, chính trị có nguồn gốc sâu xa, diễn ra từ nhiều nhiệm kỳ trước. Cho nên việc Đảng, Nhà nước nghiên cứu, lắng nghe ý kiến của người dân, của báo chí về những chương trình, dự án…, trước đây có dấu hiệu mờ ám, vi phạm pháp luật là điều tất nhiên. Mặt khác, cuộc đấu tranh chống tham nhũng, “lợi ích nhóm”, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không thể không xác định trách nhiệm cá nhân. Rồi đây các cơ quan chức năng còn phải chỉ ra các “địa chỉ” cụ thể. Nếu không làm như vậy thì cuộc đấu tranh sẽ không đạt được hiệu quả. 

    Cho dù các thế lực thù địch, các “nhà hoạt động xã hội”, hoặc kẻ nhân danh “người yêu nước” có dùng âm mưu thủ đoạn thâm độc đến đâu cũng không thể che đậy được dã tâm của họ. Như đông đảo cán bộ, nhân dân ta xác định, mặc dù xã hội ta vẫn còn những vấn đề phải giải quyết, thậm chí có cả những vấn đề bức xúc, nhưng không có lực lượng chính trị nào có đủ lương tâm, trí tuệ và sức mạnh hơn Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng, hoàn thiện chế độ xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Chủ động ngăn chặn, đối phó hiệu quả với những hoạt động chống phá cách mạng

Thực trạng và xu hướng trên cho thấy tính chất nguy hiểm trong âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Nếu không nâng cao cảnh giác và chủ động ngăn chặn, đối phó có hiệu quả với hoạt động chống phá của chúng, sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thực trạng này đã và đang đặt ra một số yêu cầu cấp thiết sau:
Một là, cấp ủy, chính quyền các cấp cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu, nâng cao nhận thức, quán triệt sâu sắc các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo nói chung, từng tôn giáo cụ thể nói riêng. Chú trọng nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, khắc phục tình trạng buông lỏng quản lý ở một số địa phương. Cần nhận thức rõ rằng, giải quyết tốt vấn đề tôn giáo sẽ là một trong những nhân tố quan trọng góp phần ổn định chính trị – xã hội trong cả nước cũng như từng địa phương.
Hai là, chú trọng công tác xây dựng lực lượng chính trị, cơ sở cốt cán trong tôn giáo; làm tốt công tác phát triển đảng viên, đoàn viên, hội viên trong tín đồ tôn giáo nhằm phát huy tác dụng làm “hạt nhân” trong phong trào cách mạng của quần chúng ở địa phương, cơ sở. Kiện toàn bộ máy tuyên truyền nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng; đặc biệt là ở những vùng có đông đồng bào theo đạo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nội dung tuyên truyền tập trung vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo để quần chúng tín đồ hiểu rõ và chấp hành nghiêm túc; khai thác các giá trị nhân văn, đạo đức tiến bộ trong giáo lý tôn giáo để vận động, thu hút, tập hợp quần chúng tín đồ tham gia các phong trào thi đua yêu nước.
Trước sự tấn công quyết liệt của các thế lực thù địch, nếu chúng ta không chú trọng, quan tâm, nâng cao hiệu quả công tác vận động quần chúng, không “nắm” được quần chúng thì sẽ phải đối mặt với những nguy cơ như nhiều nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào những năm 80 và 90 của thế kỷ trước.
Ba là, đẩy mạnh công tác phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc; thực hiện tốt chính sách đoàn kết lương – giáo; tập trung chỉ đạo thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, làm cho cộng đồng ổn định, buôn làng phát triển, gia đình ấm no… Bên cạnh đó, phải kịp thời vạch trần mọi âm mưu, phương thức, thủ đoạn mà các thế lực thù địch thường lợi dụng tôn giáo để gây chia rẽ dân tộc, chống phá cách mạng nước ta; vạch trần bộ mặt phản động, đội lốt tôn giáo để phá hoại cách mạng của cái gọi là “Tin Lành Đề-ga” để quần chúng nhân dân hiểu rõ, từ đó nâng cao trình độ nhận thức, giác ngộ, ý thức cảch giác cách mạng trong quần chúng tín đồ.
Bốn là, các tỉnh, thành phố có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận, đoàn thể; nhất là, đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo chuyên sâu ở tỉnh, huyện, xã, đáp ứng tốt yêu cầu quản lý nhà nước đối với công tác tôn giáo trong tình hình mới. Tổ chức các lớp, các đợt tập huấn riêng cho các chức sắc, chức việc, người có ảnh hưởng, uy tín với cộng đồng tôn giáo, dân tộc để phổ biến chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước; đồng thời, nhắc nhở trách nhiệm của họ trong khi chăm lo việc đạo phải thường xuyên yêu cầu tín đồ chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xây dựng cuộc sống “tốt đời – đẹp đạo”, tuân thủ pháp luật, làm tròn nghĩa vụ công dân, cảnh giác và góp phần đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch. Bên cạnh đó, phải nắm chắc số phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, cực đoan, quá khích trong các cộng đồng tôn giáo, số đối tượng cầm đầu kích động quần chúng giáo dân khiếu kiện trên từng địa bàn cụ thể để chủ động quản lý, đấu tranh có hiệu quả, ngăn chặn kịp thời.

Những năm qua, công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo đã đạt được nhiều thành tựu rất đáng ghi nhận, đã có những bước tiến tốt hơn và ngày càng đi vào ổn định; công tác tuyên truyền, vận động quần chúng đã đem lại những hiệu quả tích cực hơn, tình hình sinh hoạt tôn giáo ở các chi hội dần đi vào xu thế bình thường, ổn định, quần chúng tín đồ, chức sắc, chức việc vui mừng, phấn khởi, yên tâm, tin tưởng vào chủ trương, đường lối, chính sách tôn giáo đúng đắn của Đảng và Nhà nước, các hoạt động tôn giáo trái phép giảm dần… Tuy vậy, trong thời gian tới các cấp ủy, chính quyền, các ngành chức năng và các đoàn thể ở địa phương, cơ sở phải không ngừng nâng cao cảnh giác cách mạng, tiếp tục có những biện pháp thiết thực, hữu hiệu để đấu tranh ngăn chặn những âm mưu, thủ đoạn hoạt động lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch trong nước và quốc tế./.

Phê phán luận điểm Đảng Cộng sản Việt Nam không thể chống tham nhũng, suy thoái

          Luận điểm Đảng Cộng sản không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái thành công với những suy diễn chủ quan, võ đoán thực chất là luận điệu xấu của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội nhằm gieo rắc tâm lý hoang mang, mất niềm tin của nhân dân.

          Để có nhận thức khách quan, khoa học về vấn đề này, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XII) của Đảng, chống suy thoái chính trị, tư tưởng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, Báo CAND trân trọng giới thiệu bài viết của PGS, TS Vũ Như Khôi, Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự - Bộ Quốc phòng.
          Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân đang triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII và các nghị quyết Trung ương, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng - chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Lợi dụng tình hình dư luận xã hội đang bức xúc về tệ nạn tham nhũng, suy thoái của một số cán bộ, đảng viên, nhất là những người giữ các vị trí lãnh đạo cơ quan chính quyền, quản lý kinh tế; công tác xây dựng Đảng, ngăn chặn đẩy lùi tham nhũng, suy thoái của Đảng còn không ít hạn chế, khuyết điểm, dẫn đến kết quả chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đặt ra, một số người đã tung ra luận điểm “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái thành công”.
          Luận điểm này chỉ là lẻ tẻ của một số người và chỉ dựa trên mấy luận chứng chủ quan, võ đoán như: Tham nhũng, suy thoái là căn bệnh kinh niên của chế độ độc đảng cầm quyền; vì xã hội ta thiếu dân chủ nên không thể chống tham nhũng, suy thoái thành công; đã nhiều lần phát động chống tham nhũng, suy thoái nhưng đều không thành công, tệ nạn lại càng gia tăng... Từ đó, họ kết luận cuộc đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái của Đảng Cộng sản Việt Nam không thể thành công.
          Cuộc đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái có thành công hay không phải dựa trên những chứng cứ lịch sử, lại phải có cách đánh giá khách quan, toàn diện, dự báo đúng chiều hướng phát triển của tình hình.
          Quốc gia nào cũng vậy, trong mỗi thời điểm đều do một đảng cầm quyền. Khi đảng nào cầm quyền thì người đứng đầu và các chức vụ quan trọng của chính quyền nhà nước đều do người của đảng đó đảm nhiệm; đường lối, chủ trương của đảng cầm quyền sẽ chi phối đường lối, chính sách của quốc gia. Dù là chế độ một đảng cầm quyền hay đa đảng thay nhau cầm quyền thì nạn tham nhũng, suy thoái vẫn thường xảy ra, kể cả các nước phát triển có hệ thống pháp luật khá hoàn chỉnh, có trình độ quản lý kinh tế, xã hội cao.
          Điều quan trọng hơn hết là đảng nào có mục tiêu vì nước, vì dân, giáo dục, quản lý tốt cán bộ, đảng viên, thì có thể hạn chế đến mức thấp nhất nạn tham nhũng, suy thoái, không gây nên những tiêu cực lớn đối với xã hội.
          Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ khi ra đời, lãnh đạo cuộc đấu tranh giành chính quyền, cán bộ, đảng viên của Đảng tuyệt đại đa số đều là những nhà cách mạng tự nguyện từ bỏ lợi ích bản thân, xả thân chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Nhiều tấm gương hy sinh oanh liệt của các nhà lãnh đạo Đảng, các cán bộ, đảng viên, mãi mãi lưu danh trong lịch sử vẻ vang của Đảng như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần, Hoàng Văn Thụ,…
          Tuy nhiên ngay từ đó, trong cuộc đấu tranh lưu huyết một sống, một chết dưới ách thống trị tàn bạo của chính quyền thực dân phong kiến cũng đã có những người không chịu nổi thử thách gian nguy, tự rời bỏ hàng ngũ cách mạng, thậm chí đầu hàng địch, phản bội cách mạng. Những người thiếu kiên trung với cách mạng, có biểu hiện dao động, cầu an đã bị đào thải. Nhưng đó chỉ là những trường hợp cá biệt. Đảng không vì thế mà yếu đi. Đảng càng trong sạch và ngày càng phát triển vững mạnh, được các tầng lớp nhân dân tin tưởng, tôn vinh vai trò lãnh đạo và tình nguyện chiến đấu dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng...
          Thời chiến, khi mâu thuẫn dân tộc lên cao độ, mọi người đều dồn tâm lực vào việc đánh giặc cứu nước, được Bác Hồ và Đảng giáo dục, rèn luyện nên tuyệt đại bộ phận tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên ra sức phấn đấu hoàn thành chức trách, nhiệm vụ, xứng đáng là những người cách mạng chân chính. Trong hai cuộc chiến tranh giải phóng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thật sự xứng đáng là đội tiên phong cách mạng lãnh đạo toàn dân tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, đánh thắng hai tên đế quốc lớn mạnh, giành độc lập tự do, thống nhất cho quốc gia dân tộc.
          Trong kháng chiến, đảng viên cộng sản là những người tiên phong nhận nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm, chấp nhận hy sinh bản thân mình để giành thắng lợi cho cách mạng. Họ đã trở thành những anh hùng bất tử, nêu tấm gương sáng cho bộ đội và nhân dân noi theo quyết chiến quyết thắng với quân thù. Khi đó, cũng có một số người phạm vào tội lỗi tham ô, lãng phí, quan liêu. Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án, gọi đó là “giặc nội xâm”, là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến. Tội lỗi đó làm hại đến tính mệnh và tài sản của nhân dân, làm mất thanh danh, uy tín của Đảng và Nhà nước.
          Những kẻ phạm tội đó, dù ở cương vị nào cũng phải đem ra xét xử theo đúng pháp luật để đề cao phép nước. Bản án tử hình dành cho Giám đốc Nha Quân nhu Trần Dụ Châu về tội lợi dụng chức quyền nhận hối lộ, tham ô, sa đọa, thể hiện sự nghiêm minh của Đảng, Chính phủ trong thực thi pháp luật.
          Chính vì sự tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên và việc Đảng, Nhà nước xử lý không khoan nhượng đối với những người phạm tội với cách mạng, với nhân dân, đã khiến cho Đảng trong sạch vững mạnh, lãnh đạo kháng chiến thắng lợi.
          Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, biết bao cán bộ, đảng viên Quân đội ngày đêm ở nơi xa xôi biển đảo, biên cương canh giữ chủ quyền đất nước; nhiều cán bộ, đảng viên Công an dũng cảm chiến đấu trên mặt trận thầm lặng, giữ gìn an ninh chính trị và cuộc sống yên bình cho nhân dân; những cán bộ, đảng viên trực tiếp sản xuất vất vả trong nhà máy, trên đồng ruộng; những cán bộ, đảng viên lao động trí óc ngày đêm miệt mài nghiên cứu, sáng tạo, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp chung, không tính toán thiệt hơn, không đòi hỏi sự ưu ái cho riêng mình.
          Đó là những bằng chứng lịch sử minh chứng cho đánh giá của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII: “Nhìn một cách tổng thể, trong suốt quá trình xây dựng, trưởng thành và lãnh đạo cách mạng, Đảng ta xứng đáng là lực lượng lãnh đạo. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ và vị thế như ngày nay. Đó là kết quả sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự hy sinh quên mình và đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên”.
          Như vậy, từ thực tế nền chính trị các quốc gia trên thế giới và lịch sử chế độ chính trị Việt Nam thời hiện đại đã chứng tỏ chế độ một đảng cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng, suy thoái trong xã hội. Vấn đề dân chủ trong xã hội, đây là một vấn đề lớn, không một quốc gia nào dám tự coi là đã thực hiện một cách hoàn hảo. Mỗi quốc gia, dân tộc thực hiện dân chủ xã hội tùy thuộc vào tình hình chính trị - xã hội, sự hoàn thiện hệ thống pháp luật, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, truyền thống, phong tục, tập quán dân tộc và trình độ dân trí… 
Từ thực tế nền chính trị các quốc gia trên thế giới và lịch sử chế độ chính trị Việt Nam thời hiện đại đã chứng tỏ chế độ một đảng cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng, suy thoái trong xã hội.