Tăng sức đề kháng để ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa

        Một trong những nội dung quan trọng của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII là thảo luận, cho ý kiến và ra nghị quyết về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến," "tự chuyển hóa" trong nội bộ”.

Triển khai thực hiện nghị quyết chính là tiến hành cuộc đấu tranh sống còn, liên quan đến sinh mệnh chính trị của Đảng, sự phát triển của quốc gia và sự tồn vong của chế độ. Cuộc đấu tranh ấy có giành được thắng lợi hay không, vấn đề tiên quyết là phải tăng cường sức đề kháng ở ngay trong nội bộ Đảng.
        “Tự diễn biến” là thuật ngữ chỉ sự thay đổi về tư tưởng chính trị của con người, là quá trình đấu tranh giữa mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN) và tư bản chủ nghĩa (TBCN) trong nội tâm người cán bộ, đảng viên trước những tác động phức tạp của tình hình trong nước và quốc tế; yếu tố tiêu cực và tư tưởng TBCN dần dần tăng lên; yếu tố tích cực, tư tưởng XHCN phai nhạt dần. Khi tư tưởng chính trị chệch hướng, tất yếu làm cho cán bộ, đảng viên tự suy thoái, biến chất, dẫn đến bộ máy của Đảng, Nhà nước suy yếu, suy vong.
“Tự chuyển hóa” là sự liền kề, kế tiếp của “tự diễn biến”, là sự thay đổi về chất, từ tốt thành xấu, từ tích cực thành tiêu cực, từ cách mạng thành phản cách mạng. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của từng cá nhân nếu không được ngăn chặn kịp thời, triệt để sẽ dẫn đến tổ chức bị suy thoái, tự tan rã. Khi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra ở tầm vĩ mô sẽ dẫn đến sự chuyển hóa làm chệch hướng XHCN sang TBCN.
Hiện nay, với những gì đã làm được đối với các nước XHCN trước đây, các thế lực thù địch ráo riết đẩy mạnh thực hiện “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” đối với các nước XHCN còn lại, trong đó có nước ta. Chúng nhận định quá trình hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, tất yếu sẽ tạo ra "khoảng trống" và mặt trái để tiếp cận, lợi dụng chống phá. Cùng với đó, một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, lãng quên trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, trước yêu cầu của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, của Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở một số nơi chưa đến nơi đến chốn; kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, nói không đi đôi với làm, hoặc làm chiếu lệ, thậm chí nói một đằng làm một nẻo; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, ham quyền lực; bè phái cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của dân… Hệ quả làm cho tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Nhà nước không những chưa được đẩy lùi, mà có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn.
Quân đội ta những năm qua thường xuyên được Đảng, Nhà nước chăm lo xây dựng về mọi mặt, trước hết là xây dựng vững mạnh về chính trị, nhờ đó chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu không ngừng được nâng lên; luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi hoàn cảnh, nhất là đã làm tốt vai trò nòng cốt, phối hợp với các ngành, các lực lượng, chủ động phòng ngừa, tích cực đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch; góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội; bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Quân đội cũng là một bộ phận của xã hội, lại là lực lượng chính trị, đội quân chiến đấu tin cậy và trung thành tuyệt đối của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Do đó, để chống phá Đảng, chuyển hóa chế độ, các thế lực thù địch đã và đang tập trung thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa quân đội”, chia rẽ quân đội với Đảng, quân đội với công an và tìm cách làm "méo mó" hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân. Những hiện tượng vi phạm về đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội; những biểu hiện ngại khó, ngại khổ; lười học tập, nhất là học tập nghị quyết của Đảng... của một số đảng viên, cán bộ, chiến sĩ, nếu không có biện pháp chấn chỉnh, khắc phục kịp thời thì “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sẽ có mảnh đất màu mỡ để phát triển.
Ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nhiệm vụ “vừa cấp bách, vừa lâu dài” của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta; phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp cụ thể, thiết thực, trong đó quan trọng nhất là phải tăng cường sức đề kháng trong Đảng để ngăn chặn từ xa, ngăn chặn từ gốc những biểu hiện trên. 
Để nâng cao sức đề kháng, phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có hiệu quả, cần tập trung xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững chắc làm cơ sở ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ tác động từ bên ngoài. Mọi âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch sẽ bị vô hiệu, nếu nội bộ Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị vững mạnh. Theo đó, đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Hệ thống chính trị, nhất là Đảng và Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ phải được thường xuyên chăm lo xây dựng thực sự vững mạnh. Cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí phải được tăng cường, kiên quyết và mạnh mẽ hơn, nhằm loại bỏ những "con sâu mọt” ra khỏi bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước, làm trong sạch các tổ chức đảng, bộ máy chính quyền; đẩy mạnh đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Kết hợp chặt chẽ giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa từ xa với chủ động tiến công làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch từ trong “trứng nước”. Đây là phương châm đúng đắn, thể hiện rõ tư tưởng cách mạng tiến công trong chỉ đạo cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến", “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng.
Đối với quân đội, cần phải giữ vững và không ngừng xây dựng bản chất cách mạng, đặc biệt là bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc; xây dựng quân đội vừa là lực lượng chính trị, vừa là công cụ bạo lực tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; giữ vững mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước, nhân dân với quân đội. Chống “phi chính trị hóa”, chống chia rẽ trong nội bộ LLVT. Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, không để địch cài cắm, móc nối hoạt động chống phá. Đấu tranh bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại quốc phòng của Đảng và Nhà nước; phát triển các quan hệ đối ngoại quân sự song phương và đa phương phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc; củng cố tình đoàn kết, hữu nghị với quân đội các nước láng giềng nhằm tăng cường ảnh hưởng, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; giải quyết đúng đắn mối quan hệ đối ngoại quân sự. Giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Tham mưu cho Đảng và Nhà nước xử lý mềm dẻo trên cơ sở luật pháp quốc tế những bất đồng, tranh chấp với các nước láng giềng...
Để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay, cần thực hiện nhiều giải pháp cơ bản, đồng bộ như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã xác định. Trên góc độ tăng cường sức đề kháng để phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cần chú ý tới một số biện pháp sau:
Trước hết, cần tăng cường hơn nữa công tác giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Thực tế trong Đảng nói chung, trong quân đội nói riêng, không ít cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cơ sở chưa thực sự nhận thức rõ về tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cho đó là những lo lắng không cần thiết hoặc cho rằng nếu có, thì có ở địa phương, đơn vị khác chứ ở địa phương, đơn vị mình không xảy ra. Một bộ phận cán bộ, đảng viên dù nhận thức rõ nguy cơ trên, nhưng vì chủ nghĩa cá nhân mà bất chấp tất cả để vụ lợi cho riêng mình. Cho nên, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên chính là tạo được “bức tường thành” ngăn ngừa một cách hiệu quả quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Mặt khác, cũng cần phải dự báo được những tình huống phức tạp nảy sinh về tư tưởng, những vướng mắc về lý luận cần tháo gỡ và có biện pháp tổ chức lực lượng, phương tiện đấu tranh hiệu quả.
Đạo đức cách mạng là cái gốc, là phẩm chất hàng đầu của người cán bộ, đảng viên; giúp mỗi cán bộ, đảng viên gạt bỏ chủ nghĩa cá nhân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì lợi ích của Đảng, của nhân dân; nói và làm đúng với quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên của mình chính là Đảng đang tự tăng cường “sức đề kháng” để chống lại căn bệnh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đạo đức cách mạng được thể hiện bằng hành động cụ thể thông qua lời nói, việc làm thực sự gương mẫu “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Do đó, từng cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nghiêm chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tích cực thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Cùng với đó, phải làm tốt công tác quản lý cán bộ, đảng viên; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng và bảo vệ Đảng. Đối với LLVT đây là khâu “then chốt” có tính cốt lõi trong công tác nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của LLVT trong sạch, vững mạnh, phòng chống có hiệu quả tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Các nội dung của công tác cán bộ như: Tuyển chọn, bố trí, quy hoạch; nhận xét, đánh giá; bổ nhiệm, miễn nhiệm; khen thưởng, kỷ luật; thực hiện chế độ, chính sách... đều được tiến hành khoa học, dân chủ, khách quan, công tâm. Việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ mang tính toàn diện, có chiều sâu, trọng tâm là nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, năng lực thực tiễn và chuyên môn đảm nhiệm... Chủ động, kịp thời tiến hành công tác kiểm tra, giám sát nhằm ngăn ngừa, đẩy lùi tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, những biểu hiện manh nha của việc “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Không để xảy ra tình trạng buông lỏng nguyên tắc tổ chức của Đảng, sa sút tính chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên. Nhờ đó có tác động rất hiệu quả đến công tác phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của đơn vị.
Trong âm mưu thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với nước ta, các thế lực thù địch đang tận dụng tối đa sức mạnh của truyền thông, các trang mạng xã hội, mạng internet để xuyên tạc, bôi nhọ, kích động, tạo nghi ngờ, giảm sút lòng tin của nhân dân với Đảng, với Nhà nước... Do vậy, đấu tranh với quan điểm sai trái thù địch trên các trang mạng xã hội, hệ thống truyền thông là một biện pháp chính diện có tác dụng to lớn tăng cường sức đề kháng phòng, chống có hiệu quả "tự diễn biến", “tự chuyển hóa”.
          "Tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là  quá trình âm thầm diễn ra bên trong mỗi cá nhân, tổ chức. Cũng như căn bệnh, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” phụ thuộc vào sức đề kháng và sự “miễn dịch” của từng người. Nếu chúng ta chăm lo, bồi dưỡng, trang bị thêm các kiến thức phòng bệnh cần thiết, nhất là độ vững vàng về chính trị, độ thanh liêm về đạo đức, lối sống thì nhất định sẽ ngăn chặn và đẩy lùi được sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị trong cán bộ, đảng viên, thực hiện thành công Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
NHỮNG KẺ MƯU ĐỒ PHẢN BỘI TỔ QUỐC

Điều 88. Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
  1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:
    a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;
    b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân;
    c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

Đằng sau những “thư ngỏ”, “tâm thư” đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng

          Cứ gần đến những ngày kỷ niệm lớn hoặc có những sự kiện chính trị-xã hội quan trọng của đất nước là các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, những kẻ tự xưng “đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền Việt Nam” lại tung lên các trang mạng, blog những bài viết dưới dạng “thư ngỏ”, “tâm thư” có nội dung sai trái, xuyên tạc nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta.
    Thời gian gần đây, khi đất nước triển khai đưa Nghị quyết Đại hội XII và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng vào cuộc sống, các phần tử cơ hội chính trị, các thế lực thù địch lại tiếp tục rao thứ “bình cũ, rượu cũ” nhằm thực hiện những mưu toan chống phá Đảng, Nhà nước ta.
 Lật tẩy mặt nạ những “thư ngỏ”, “tâm thư”
Trên một số trang mạng xã hội đăng tải các bài viết dưới danh nghĩa “thư ngỏ”, “kiến nghị”, “tâm thư”… với nội dung chỉ trích, “kiến nghị” đòi hỏi vô lý, phi thực tế. Một số trích đoạn phơi bày cái gọi là “tâm huyết” của các tác giả, vẫn là những điệp khúc muôn thuở, nào là “sai lầm đường lối” của Đảng Cộng sản Việt Nam về con đường xây dựng CNXH; nào là “thể chế độc đảng toàn trị” nên “xã hội không có tự do, dân chủ”… Rồi có những người giả danh “tâm nguyện vì nước, vì dân” đưa ra mấy yêu cầu (thực chất là yêu sách) đòi Đảng Cộng sản Việt Nam “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, phải “thay đổi Cương lĩnh xây dựng đất nước”, phải “chuyển đổi thể chế chính trị”… Có thể thấy ngay dã tâm của họ qua những “tâm thư”, “tâm nguyện” đó chính là muốn quay lưng lại với con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn là xây dựng chế độ XHCN, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Đáng chú ý trong các hoạt động nêu trên là có sự tham gia, ký tên của một số người trước đó đã từng giữ cương vị lãnh đạo ở một số bộ, ngành; có người là nhà khoa học, trí thức, văn nghệ sĩ có tên tuổi, là đảng viên có nhiều năm tuổi Đảng… Điều này cho thấy, những “tâm nguyện”, “kiến nghị” đó không thể là do sự “ấu trĩ, mơ hồ” về chính trị-xã hội, về nhận thức tư tưởng, vì những người này đều có trình độ học vấn cao; cũng không phải do sự khác biệt về “chính kiến” bởi họ đều đã có quá trình lâu dài được Đảng và nhân dân nuôi dưỡng, giáo dục. Do đó, dù được ngụy trang bằng những mỹ từ nào đi chăng nữa, bản chất và mục đích thật sự của các “thư ngỏ”, “kiến nghị” đó rõ ràng là phục vụ âm mưu của các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện “đa nguyên chính trị”, đòi chuyển hóa thể chế Cộng hòa XHCN Việt Nam sang mô hình xã hội theo kiểu phương Tây.
Để tăng thêm “gia vị” cho các “tâm nguyện” và cũng để lôi kéo sự “đồng tình” của những người khác phục vụ cho động cơ, mục đích của mình, các đối tượng đã lợi dụng các vấn đề xã hội phức tạp như: Vụ việc Formosa xả thải; một số vụ án kinh tế lớn có dấu hiệu vi phạm pháp luật, làm thất thoát lớn tài sản của Nhà nước; một số cán bộ suy thoái... để từ đó “quy kết” hệ thống chính trị là “yếu kém” cả về trách nhiệm và năng lực, cho rằng Đảng “phải chịu trách nhiệm” về tình trạng nói trên. Thế nhưng, rõ ràng những “tâm thư”, “tâm nguyện”, luận điệu kể trên không thể phủ nhận được sự thật hiển nhiên về niềm tin của số đông nhân dân ta đồng lòng đi theo Đảng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với những thành tựu đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận trên cả phương diện lý luận, thực tiễn và lịch sử.
Về phương diện lý luận, vấn đề Đảng Cộng sản cầm quyền là một trong những nội dung quan trọng của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Nghiên cứu lịch sử đương đại, Mác và Ăng-ghen chỉ ra rằng, trong các xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, giai cấp nào giành được quyền lực nhà nước sẽ trở thành giai cấp thống trị và thực hiện vai trò lãnh đạo đối với xã hội. Kế thừa những di sản tư tưởng, quan điểm cơ bản đó trong điều kiện mới, V.I.Lê-nin đã phát triển và có những luận điểm sâu sắc về vấn đề cầm quyền của Đảng Cộng sản, trong đó khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công. Buông lỏng hoặc hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng là phạm sai lầm từ nguyên tắc, là thủ tiêu sức mạnh của nhà nước và hệ thống chính trị, tạo điều kiện cho chủ nghĩa cơ hội nổi dậy “cướp chính quyền”.
Về phương diện thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam với truyền thống đoàn kết, thống nhất, được tổ chức và hoạt động chặt chẽ theo tư tưởng, nguyên tắc của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đã lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trong 30 năm qua đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa đất nước vững bước trên con đường đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được củng cố, nâng cao.
Về phương diện lịch sử, kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ở Việt Nam cũng có thời kỳ tồn tại đa đảng, nhưng sau đó các đảng khác đều tự giải tán do hoàn thành vai trò lịch sử và không còn cơ sở xã hội để tồn tại. Đảng Cộng sản Việt Nam với vai trò duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam-đó là sản phẩm của sự lựa chọn mang tính khách quan của lịch sử dân tộc.
Bài học rút ra từ sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu vẫn còn nguyên giá trị. Các tầng lớp nhân dân Việt Nam nhận thức rõ rằng, không cần thiết phải thực hiện “đa nguyên chính trị”. Và khẩu hiệu “đa đảng chính trị” chỉ là cái cớ để các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị muốn loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm chuyển đổi chế độ XHCN ở Việt Nam sang mô hình xã hội kiểu phương Tây, phá hoại sự ổn định của đất nước, xóa bỏ những thành quả mà giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc ta đã phải mất bao nhiêu xương máu mới giành được. Vấn đề cơ bản, quan trọng lúc này là phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, không ngừng đổi mới, chỉnh đốn, bảo vệ Đảng, để Đảng luôn có đủ uy tín chính trị và khả năng hoàn thành nhiệm vụ do lịch sử giao phó. Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo, cũng có những lúc Đảng phạm phải giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan, nhưng Đảng đã luôn nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, tự chỉnh đốn để nâng cao uy tín chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu.
Việc Đảng ta dám thẳng thắn thừa nhận và kiên quyết sửa chữa sai lầm, khuyết điểm đã thể hiện rõ bản lĩnh chính trị và trách nhiệm cao của Đảng trước nhân dân, dân tộc. Vì vậy, không thể vin vào một số khuyết điểm, yếu kém hiện nay trong Đảng mà đánh giá sai bản chất của Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Cũng không thể đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản với một số cán bộ, đảng viên tham nhũng, thoái hóa, biến chất, từ đó quy chụp mọi khuyết điểm, sai lầm, tiêu cực trong xã hội cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Phủ nhận Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là phủ nhận một thực tế lịch sử, phủ nhận một trong những trang hào hùng nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam; là sự xúc phạm đến tình cảm và điều thiêng liêng nhất của mỗi người Việt Nam yêu nước.

Hoạt động chống phá nước ta của các thế lực thù địch thông qua chiến lược “Diễn biến hòa bình”

Một trong những âm mưu thâm độc và tinh vi mà các thế lực thù địch bên ngoài cấu kết với phần tử phản động trong nước đã và đang thực hiện đó là chiến lược “Diễn biến hoà bình”. 
Bản chất và âm mưu thâm độc của chiến lược diễn biến hoà bình do các thế lực thù địch sử dụng ở nước ta là: núp dưới những hình thức, thủ đoạn “hoà bình”. Đây là cuộc chiến tranh không có biên giới, vì nó diễn ra trong mọi mặt đời sống xã hội, từ từ thẩm thấu qua các chiêu bài chủ yếu như: lợi dụng phương tiện thông tin  đại chúng, tình báo, thư, tiền, hàng..... lợi dụng tôn giáo, dân tộc để kích động gây bạo loạn  lật đổ... Những thủ đoạn, nội dung diễn biến hoà bình mà các thế lực thù địch đã sử dụng ở nước ta thường là: thực hiện tổng hợp các biện pháp, chống phá trên mọi mặt của đời sống xã hội từ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội đến quốc phòng, an ninh và sẵn sàng gây bạo loạn lật đổ.
Cụ thể như:
- Về chính trị tư tưởng: các thế lực thù địch coi đây là mặt trận hàng đầu để tập trung chống phá. Chúng chống phá về hệ tư tưởng, quan điểm đường lối của Đảng, xuyên tạc đi đến hạ bệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính trị và thể chế chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo... từ đó gây “tự diễn biến”, khủng hoảng về chính trị, làm chệch hướng và sụp đổ chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta; chống phá, đánh vào tổ chức, nhân sự nội bộ của ta; kích động vấn đề dân chủ, nhân quyền, bôi xấu chế độ; chúng tiến hành xuyên tạc, phủ nhận thành tựu cách mạng, thành tựu đổi mới của dân tộc ta.
- Các hoạt động phá hoại về kinh tế, tài chính: trong các thủ đoạn diễn biến hoà bình, kẻ địch xác định mặt trận kinh tế là mũi nhọn. Chúng chống phá đường lối, chính sách kinh tế; thúc đẩy chuyển hoá cơ cấu kinh tế, thành phần kinh tế, xâm nhập, chiếm lĩnh các địa bàn, các lĩnh vực kinh tế quan trọng...; từ đó thúc đẩy, chuyển hóa nền kinh tế của nước ta sang quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Mục đích là làm chuyển hoá chế độ kinh tế, qua đó làm thay đổi về chế độ chính trị của chúng ta theo con đuờng tư bản chủ nghĩa. Lợi dụng cơ chế thị trường và chính sách mở cửa, bằng mọi phương tiện, hình thức trong quan hệ với ta như: đầu tư, hội thảo, thăm quan, giảng dạy, trao đổi kinh nghiệm để tuyên truyền, kích động tư nhân hoá nhằm xoá bỏ ranh giới kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta và kinh tế thị trường TBCN, qua đó dần lái nền kinh tế của ta theo hướng TBCN.
- Chống phá trên mặt trận văn hoá - xã hội: đây là lĩnh vực gần gũi nhất trong đời sống xã hội. Kẻ địch xác định đây là mảnh đất thuận lợi cho chúng thực hiện âm mưu diễn biến hoà bình. Chúng chống phá đường lối, chính sách văn hoá - xã hội; thúc đẩy sự biến đổi chệch hướng giá trị văn hoá, đạo đức; biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp; lợi dụng các mâu thuẫn, khiếu kiện, các vấn đề về dân tộc, tôn giáo, nhân quyền và dân chủ… để chống phá Đảng, Nhà nước ta; từ đó thúc đẩy sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Trên mặt trận này chúng tập chung tuyên tuyền, kích động, khuyến khích lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền, dần dần làm suy thoái đạo đức, lối sống, thuần phong mỹ tục, bản sắc văn hóa dân tộc.... làm cho chúng ta hoang mang, xa rời lý tưởng, gây rối loạn chính trị, xã hội. Âm mưu này chúng tập trung vào những đối tượng là thanh niên, học sinh, sinh viên và giới văn nghệ sỹ hoạt động trên lĩnh vực văn hoá nghệ thuật. Lợi dụng những phương tiện liên lạc hiện đại như điện thoại di động, mạng Internet, sách báo, băng hình... để tuyên truyền văn hoá phẩm đồi trụy. Gần đây, tệ nạn ma tuý học đường, thuốc lắc phát triển cũng không nằm ngoài thủ đoạn diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch.  
- Chống phá trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, xã hội: chúng chống phá đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta, thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội và công an nhân dân,… tạo bước chuyển hóa lực lượng vũ trang, sẵn sàng tạo cớ răn đe, can thiệp quân sự và xâm lược nước ta khi điều kiện chín muồi. Thủ đoạn của chúng là tranh thủ mọi thời cơ tạo ra sự biến động, mất ổn định về mặt an ninh xã hội, cấu kết với những phần tử phản động trong nước để chống phá ta, lợi dụng những vấn đề tôn giáo để gây mất ổn định và chia rẽ khối đoàn kết dân tộc.
Có thể nói, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch vẫn mọi lúc, mọi nơi tìm mọi cách chống phá cách mạng nước ta, âm mưu của chúng ngày càng tinh vi và thâm độc. Chính vì vậy, làm thất bại hoàn toàn chiến lược “Diễn biến hoà bình”, đòi hỏi chúng ta phải có nhiều biện pháp toàn diện trên mọi mặt đời sống xã hội, phù hợp với từng điều kiện cụ thể.


Mỹ đã đem đến cho Việt Nam TỰ DO, DÂN CHỦ và NHÂN QUYỀN???


- TỰ DO: Mỹ đã chi trực tiếp cho cuộc chiến tranh Việt Nam gần 700 tỉ USD, nếu tính cả chi phí gián tiếp thì lên tới gần 1000 tỉ USD, gấp gần 3 lần số tiền Mỹ chi trong cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 (khoảng 341 tỉ USD), và gấp 20 lần Mỹ chi cho cuộc chiến tranh ở Triều Tiên (khoảng 54 tỉ USD).
- DÂN CHỦ: Mỹ đã huy động tới 70% lục quân, 60% lính thuỷ đánh bộ, 40% hải quân và 60% không quân của nước Mỹ. Với hơn 6,5 triệu lượt thanh niên trực tiếp tham gia chiến tranh ở Việt Nam, cùng 22000 xí nghiệp quốc phòng trên nước Mỹ trực tiếp phục vụ chiến tranh ở Việt Nam.
- NHÂN QUYỀN: Mỹ đã sử dụng 15 triêu tấn bom đạn các loại ném xuống chiến trường Việt Nam, cùng hàng chục triệu lít chất độc da cam thả xuống chủ yếu ở chiến trường Việt Nam. Làm 17% diện tích ở Việt Nam bị ô nhiễm, gần 5 triệu nạn nhân phải mang dị tật suốt đời và còn ảnh hưởng đến thế hệ con cháu của họ trong tương lai. Trong chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, bình quân mỗi người dân miền Bắc phải gánh chịu 45,5 kg bom đạn, tính ra 1km2 chịu 6 tấn bom đạn. Trong chiến tranh thế giới thứ 2, mỗi người dân Đức phải hứng chịu 27 kg/người, 5,4 tấn/km2. Ở Nhật 1,6 kg/người, 0,43 tấn/km2.
Và ngày nay một số thành phần cuồng Mỹ vẫn không ngừng ra rả cái luận điệu Mỹ không xâm lược Việt Nam, Mỹ chỉ đến "giúp" dân Việt Nam thôi!