CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC TỰ DO TÍN NGƯỠNG Ở VIỆT NAM

Những ngày gần đây, lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, nhất là khi Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, trên trang mạng “Baotiengdan”, Nguyễn Công Bình – Linh mục Giáo phận Vinh và Nguyễn Mạnh Hùng – Mục sư Sài Gòn (sau đây gọi tắt là Linh mục Bình và Mục sư Hùng) cho rằng: “Các tôn giáo thay vì được tự do để thành nhà giáo dục lương tâm cho xã hội thì bị chế độ tìm mọi cách để bó buộc im tiếng hay biến thành công cụ”. Vậy có đúng là các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay đang bị chế độ tìm mọi cách để bó buộc im tiếng hay biến thành công cụ? Phải khẳng định là không đúng như vậy. Thực chất của luận điệu này, là cố tình xuyên tạc chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Không thể chấp nhận sự suy diễn, ngụy tạo nguy hiểm này; ngược lại, cần được kiên quyết đấu tranh với sự cáo buộc sai trái này của Linh mục Bình và Mục sư Hùng.
Trên thế giới, ai cũng biết rằng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người được ghi nhận Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (theo Nghị quyết số 2200 (XXI) ngày 16/12/1966 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc). Theo đó, Điều 18 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền năm 1948 ghi nhận: Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự giảng dạy, hành đạo, thờ phụng và nghi lễ, hoặc riêng mình hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng. Các quyền này đã được Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị cụ thể hoá và quy định tại Điều 18 rằng: “Mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo…; Không ai bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn hoặc tin theo tôn giáo hoặc tín ngưỡng của họ… Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”. Như vậy, theo quan điểm được thể hiện trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, mặc dù tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền cơ bản của con người, nhưng quyền đó không phải là tuyệt đối, mà là một quyền có thể bị giới hạn bởi pháp luật, nếu việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo xâm hại tới an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác.
Ở Việt Nam, không chỉ được Hiến pháp và nhiều văn bản quy phạm pháp luật ghi nhận, mà trong thực tế, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn được Nhà nước ta tôn trọng, bảo đảm. Theo đó, Điều 24 Hiến pháp năm 2013 ghi: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật. Để cụ thể hoá quy định của Hiến pháp về tín ngưỡng, tôn giáo, Điều 3 Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 của Nhà nước Việt Nam quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; trong đó “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của Nhân dân. Đồng thời, Điều 6 của Luật này quy định “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo”.

SỰ THẬT VỀ "HỘI SINH VIÊN NHÂN QUYỀN VIỆT NAM"

Sự xuất hiện của “Hội sinh viên nhân quyền Việt Nam” những ngày qua đã gây nên những “ồn ào” nhất định trên mạng xã hội. Các tổ chức, thế lực cơ hội, phản động lại được dịp trỗi dậy, phô trương thanh thế. Hòa chung với khí thế “nhốn nháo” của đồng bọn, một blogger mang tên tuankhanh (Tuấn Khanh) đã cho tán phát bài viết: “Trò chuyện với Hội Sinh viên Nhân quyền: Xã hội này đã đến lúc cần thay đổi” trên một số diễn đàn phản động, nhằm mục đích “cổ súy” cho hoạt động của Hội này và thực hiện những mưu đồ chính trị theo “kịch bản” của “đồng bọn”
Thứ nhất, thực chất Hội sinh viên nhân quyền Việt Nam là một hội “tự xưng”, thành lập và hoạt động lén lút, trái với luật pháp của Nhà nước ta. Mặc dù “Tôn chỉ” hoạt động của Hội này được diễn đạt bằng khá nhiều mĩ từ, như: ước mong cải cách giảng đường và tự do học thuật ở Việt Nam, tham gia vào mạng lưới sinh viên nhân quyền quốc tế, thúc đẩy mạnh mẽ tiến bộ trong nhà trường và giảng đường ở Việt Nam, nhưng không thể che đậy những hành động thực tế của Hội này. Từ khi thành lập, những người trong Hội này chỉ “chuyên tâm” cho các hoạt động tuyên truyền, chống đối Đảng, Nhà nước; tập hợp, kích động sinh viên tham gia vào các hoạt động sai trái. Bằng chứng là, Trần Hoàng Phúc – “sáng lập viên” của đám trò hề này đã bị Công an Hà Nội bắt giam về tội danh “tuyên truyền chống phá nhà nước”, theo điều 88 Bộ Luật hình sự. Bên cạnh đó, Hội này đang ra sức cấu kết, “tình nguyện” làm chân rết, “ăn theo” những hành động chống đối Đảng, Nhà nước và nhân dân ta của các tổ chức phản động ở nước ngoài. Qua vài nét khái quát đó, bước đầu chúng ta có thể hình dung ra “diện mạo” của cái gọi là Hội sinh viên nhân quyền Việt Nam – một tổ chức phản động mới manh nha; tập hợp những thành phần “bất hảo” trong sinh viên, hòng thực hiện những hành động trái pháp luật, đi ngược lợi ích của Nhà nước và nhân dân ta.
Thứ hai, núp dưới chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” để tiến hành các hoạt động sai trái, vi phạm luật pháp. Dân chủ và nhân quyền luôn là mũi nhọn đột phá trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch. Do đó, cũng dễ hiểu khi lén lút thành lập, Hội sinh viên phản động này đã “khéo léo” đưa hai chữ “nhân quyền” vào tên Hội. Với hành động có toan tính, ngay lập tức chúng đã lọt vào “tầm ngắm” và được các tổ chức phản động có trụ sở ở nước ngoài “hà hơi, tiếp sức”. Trong hoạt động của mình, chúng xác định: quan tâm đến nhân quyền để tác động thay đổi vận mệnh dân tộc. Rõ ràng, với sự giật dây của các “đàn anh”, nhóm này không thể tách ra khỏi lối mòn mà các tổ chức phản động đã tập trung chống phá bấy lâu. Sự gắn kết một cách vụng về giữa hoạt động cải cách giảng đường với nhân quyền đã bộc lộ rõ mưu đồ chính trị xấu xa của tổ chức phản động này. Thực tế, ở Việt Nam hoàn toàn không có cái gọi là “vấn đề nhân quyền”. Từ khi giành được độc lập đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã giành được những thành tựu to lớn trong việc bảo đảm quyền con người trên tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội; được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Những hành động lạc lõng, “ăn theo” với mục đích đen tối của Hội sinh viên nhân quyền Việt Nam chắc chắn sẽ bị tẩy chay và bị pháp luật trừng trị thích đáng.
Như vậy, việc thành lập và những hoạt động của cái gọi là Hội sinh viên nhân quyền Việt Nam là sự tiếp tay, “nối giáo” cho các thế lực phản động, chống đối Đảng, Nhà nước, nhân dân ta. Hành động của chúng đang đi ngược con đường phát triển tất yếu, khách quan của dân tộc Việt Nam./.

" TỰ DIỄN BIẾN" "TỰ CHUYỂN HÓA" VỀ ĐẠO ĐỨC LỐI SỐNG


 Hiện nay ở nước ta hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về đạo đức, lối sống đang diễn ra và được biểu hiện ở nhiều mức độ. Biểu hiện đầu tiên của những người “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về đạo đức, lối sống là nhìn nhận đạo đức, lối sống có sự sai lệch, chỉ thấy mặt tiêu cực, mặt xấu mà không thấy mặt tích cực, không thấy những giá trị đạo đức, lối sống tốt đẹp của dân tộc, của cách mạng.
Những người có tư tưởng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về đạo đức, lối sống thường là những người thiếu tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức, lối sống, nên dần bị tha hóa, bị cái xấu lấn lướt những cái tích cực trong con người mình. Đại hội lần thứ XII của Đảng đã nhận định: “Tình trạng thiếu trách nhiệm, cơ hội, suy thoái đạo đức, lối sống vẫn diễn ra khá phổ biến trong một bộ phận cán bộ, đảng viên”. Đó chính là sự yếu kém, mất dần cái tốt, cái tiến bộ, làm tăng dần cái xấu, cái lạc hậu, làm chậm lại quá trình phát triển và dẫn đến sự thoái hóa, biến chất của chính bản thân con người và tổ chức.
Suy thoái về đạo đức, lối sống còn biểu hiện ở việc du nhập lối sống tư sản thực dụng, sống buông thả, ngại học tập, phấn đấu, rèn luyện. Có một bộ phận sa vào tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, sử dụng ma túy, buôn lậu… và tha hóa về quan hệ gia đình, quan hệ xã hội. Những người này thường không còn nhiệt huyết cách mạng, tính tích cực bị giảm sút, phẩm chất cách mạng bị xói mòn. Những cán bộ, đảng viên có quyền lực mà rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về đạo đức, lối sống ngoài việc ngại rèn luyện, lười suy nghĩ, lười học tập… họ còn hình thành những “cơ chế ngầm”, tạo “cánh hẩu” để bảo vệ, bao che cho nhau, trù dập những người thẳng thắn, có thái độ đấu tranh phê bình. Họ du nhập, bắt chước lối sống tư sản, coi đó là "lẽ sống của thời đại", trong khi đó họ lại coi thường lẽ phải, đạo lý.
Suy thoái về đạo đức, lối sống tất dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị. Ở mức độ này có thể gọi là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trầm trọng. Họ rất có thể sẽ chuyển hóa thành đối tượng phản động, chống lại Tổ quốc, chống lại Đảng, chế độ và nhân dân. Thực tế hiện nay đã có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên bị thoái hóa về đạo đức, lối sống, đúng như Hội nghị Trung ương lần thứ tư (khóa XII) nhận định: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”. Đây là sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” rất nguy hiểm về đạo đức, lối sống ở nước ta hiện nay, nên cần phải nhận diện cho rõ và đấu tranh, chấn chỉnh, loại bỏ.

VAI TRÒ, VỊ THẾ CỦA ĐÁT NƯỚC KHẲNG ĐỊNH TÍNH ĐÚNG ĐẮN, SÁNG TẠO TRONG ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG TA


Công tác đối ngoại của Việt Nam những năm qua, nhất là năm 2017 đã được triển khai toàn diện và đạt nhiều kết quả quan trọng. Vai trò, vị thế của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế ngày càng được nâng cao.
Thực tế đó đã khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Ấy vậy mà trên một vài trang mạng, với thái độ thù địch, thiếu thiện chí, một số người vẫn cố tình xuyên tạc đường lối, phủ nhận thành tựu đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.
Họ hồ đồ phán rằng, chính sách ngoại giao của Việt Nam là không rõ ràng; tư duy ngoại giao của Việt Nam chậm đổi mới nên "bỏ lỡ nhiều cơ hội"... Họ tiếp tục lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để thông qua các diễn đàn quốc tế, các hoạt động ngoại giao hòng can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Theo họ, Việt Nam muốn "mở mày mở mặt" với thế giới thì phải "cải cách thể chế một cách toàn diện", phải chấp nhận đa nguyên chính trị... Những giọng điệu cũ rích ấy vẫn không ngoài mục đích nhằm hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hướng lái chế độ XHCN mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta xây dựng đi theo quỹ đạo khác.
Nhưng họ đã lầm. Những động cơ, mục đích thấp hèn của họ không bao giờ thực hiện nổi. Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền...; có một nền văn hóa đặc sắc, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển hàng ngàn năm. Vai trò, vị thế của Việt Nam chỉ có thể do chính Việt Nam tạo dựng và phát triển chứ không phải do ai sắp đặt, ban phát. Mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, cách mạng Việt Nam có mục tiêu, yêu cầu và những nhiệm vụ cụ thể. Trên cơ sở tình hình trong nước, quốc tế và khu vực, Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối, chính sách đối ngoại phù hợp. Không một thế lực nào có thể áp đặt, can thiệp vào việc định ra đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tiếp tục phát triển đường lối đối ngoại đã đề ra từ các kỳ đại hội trước, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã khẳng định: "Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng cũng đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế nhằm "giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới". Trên cơ sở ý Đảng lòng dân và tình hình thực hiện chính sách ngoại giao của các nước trên thế giới, Đảng ta xác định, mục tiêu tối thượng của công tác đối ngoại là “bảo đảm lợi ích quốc gia-dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi”. Đối với các nước, nhất là các nước lớn, Đảng ta chủ trương: "Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác chiến lược và các nước lớn có vai trò quan trọng đối với phát triển và an sinh của đất nước, Việt Nam chủ trương tích cực hội nhập, nhưng Việt Nam không thể vì hội nhập mà đánh mất bản sắc dân tộc; không vì hội nhập mà tạo ra những nguy cơ đối với sự tồn vong của chủ quyền lãnh thổ, độc lập dân tộc và CNXH. Đi kèm với chủ trương hội nhập, lẽ đương nhiên Việt Nam phải có các chính sách để vừa đón nhận những làn gió trong lành, tiếp thu những tinh hoa của thế giới phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước, vừa phải ngăn chặn, đẩy lùi những luồng gió gây hại cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc... Như vậy có thể thấy quan điểm, đường lối, chính sách ngoại giao của Đảng ta là rất rõ ràng.
Thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng, những năm qua, hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế của nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Đặc biệt năm 2017 được đánh giá là một trong những năm thành công nhất của đối ngoại Việt Nam. Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc vai trò chủ nhà của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) mà cao điểm là Tuần lễ Cấp cao APEC 2017. Đúng như Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh, đánh giá: “Sự kiện này đã đưa Việt Nam thành tâm điểm chú ý của thế giới, góp phần quảng bá hình ảnh, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam". Năm 2017, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện 18 chuyến thăm đến 19 nước, tham dự 8 hội nghị quốc tế đa phương, tiến hành hàng trăm cuộc tiếp xúc song phương với lãnh đạo, nguyên thủ các nước trên thế giới, đồng thời đón 36 lượt nguyên thủ và thủ tướng các nước đến thăm. Những hoạt động đó cho thấy sự nỗ lực rất lớn của Việt Nam nhằm đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn các mối quan hệ với các nước trên thế giới, nhất là các nước láng giềng, các nước trong khu vực, các nước lớn, các nước bạn bè truyền thống. Thực tế công tác đối ngoại năm 2017 là biểu hiện sinh động cho thấy hoạt động đối ngoại đa phương của Việt Nam đã được nâng lên một tầm cao mới. Đây cũng là năm ghi dấu Việt Nam chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, phát huy vai trò trong các mối liên kết, hợp tác kinh tế khu vực và quốc tế. Những thành quả của công tác đối ngoại năm 2017 tiếp tục góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo đảm ổn định chính trị, an ninh và trật tự, an toàn xã hội. Các hoạt động đối ngoại quốc phòng, an ninh (QPAN) được đẩy mạnh, hợp tác về QPAN với các nước đối tác ngày càng hiệu quả, đóng góp tích cực vào việc tăng cường hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa Việt Nam và các nước... Những thành tựu của công tác đối ngoại năm 2017 đã thể hiện vai trò, vị thế mới của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.
Việc Tổng thống Donald Trump chọn Việt Nam là điểm đến đầu tiên trong số các nước Đông Nam Á, ngay trong năm đầu tiên của nhiệm kỳ, đã cho thấy sự nhìn nhận của Hoa Kỳ về vai trò, vị thế của Việt Nam trong khu vực và thế giới. Sau Diễn đàn APEC 2017, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Tổng thống Mỹ Donald Trump, Tổng thống Nga Vladimir Putin và lãnh đạo các nền kinh tế thành viên đều đánh giá cao chủ nhà Việt Nam đã thể hiện tốt vai trò dẫn dắt, tạo động lực mới cho một tương lai chung là hòa bình, ổn định và thịnh vượng của châu Á-Thái Bình Dương... Cùng với đó, Liên hợp quốc (LHQ) và nhiều tổ chức quốc tế đánh giá cao về những đóng góp của Việt Nam trong vai trò một quốc gia thành viên. Ông Kenneth G.Welborn-Chủ tịch Hội Hữu nghị các tổ chức quốc tế tại New York (Hoa Kỳ) từng ghi nhận: “Việt Nam đã có rất nhiều đóng góp tích cực cho Liên hợp quốc trên nhiều lĩnh vực...”. Bà Sally Kader-Chủ tịch Tổ chức Vì Hòa bình và Phát triển Bền vững, từng đánh giá: “Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu đáng kinh ngạc ở cương vị là một quốc gia thành viên LHQ cũng như là một quốc gia vươn lên từ chiến tranh và những gì Việt Nam đã làm được thực sự là tấm gương cho tất cả các nước còn lại trên thế giới nhận thấy tầm quan trọng của việc xóa bỏ thù hận để thúc đẩy sự hợp tác bất luận tất cả những gì đã xảy ra trong quá khứ". Trong khu vực, Việt Nam cũng được đánh giá là một trong những thành viên tích cực nhất, đóng góp chủ động vào các hoạt động chung của Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)... Thế giới còn ghi nhận, đánh giá cao thành tựu của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực.
Không phải ngẫu nhiên mà Bộ Ngoại giao Mỹ lại đánh giá Việt Nam là một trong những nước có mức độ rủi ro về an toàn và an ninh thấp nhất trên thế giới. Tổ chức nghiên cứu kinh tế-xã hội New Economics Foundation có trụ sở chính tại Vương quốc Anh, xếp Việt Nam là quốc gia có chỉ số hành tinh hạnh phúc (HPI) đứng thứ 5 thế giới và đứng thứ 2 ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Dấu ấn tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2017 cũng thu hút sự quan tâm của thế giới. Đáng chú ý khi phân tích các thành tựu kinh tế của Việt Nam, tờ Asian Correspondent cho rằng: "Việt Nam không chỉ trở thành nhà sản xuất hàng đầu trong khu vực Đông Nam Á, mà còn được xếp hạng thứ hai sau Ấn Độ trong danh sách các nền kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới...". Có thể nói, chưa bao giờ vai trò, vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế lại cao như hiện nay. Thực tế đó là minh chứng hùng hồn khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo và hiệu quả trong đường lối đối ngoại của Đảng ta.
Người phương Đông có câu thành ngữ: "Lẽ đời là biết nghe phải, nói phải, làm phải". Chẳng lẽ những người cho rằng, tư duy đối ngoại của Việt Nam "chậm đổi mới", đường lối đối ngoại của Việt Nam "không rõ ràng..." vẫn chưa hiểu về đường lối đối ngoại của Việt Nam? Không phải vậy! Có lẽ vì đã quen thói không nghe điều phải, không nói lẽ phải và không làm điều phải, cho nên họ đã không thấy một thực tế hết sức sinh động đang diễn ra ở Việt Nam. Hành động trắng trợn xuyên tạc đường lối, phủ nhận thành tựu đối ngoại nhằm hạ thấp vai trò, vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế mà các thế lực thù địch, những phần tử phản động đang tiến hành là rất nguy hiểm. Nhưng dù có tinh vi đến mấy những giọng điệu ấy cũng không thể xuyên tạc được sự thật, không thể đánh lừa được dư luận.


TỰ DIỄN BIẾN, TỰ CHUYỂN HÓA TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC TỚI CHẾ ĐỘ XHCN Ở NƯỚC TA


 “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có ảnh hưởng như thế nào tới quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là trong điều kiện cụ thể ở nước ta? .
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có thể diễn ra ở những quy mô, mức độ khác nhau, nhưng nhìn chung dù ở mức độ, quy mô, phạm vi nào thì cũng đều gây ra những tác hại đối với chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), nhất là đối với sự tồn vong của chế độ XHCN nói chung và chế độ XHCN ở Việt Nam nói riêng. Mức độ gây hại của nó phụ thuộc vào tính chất, mức độ, phạm vi của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị, nhất là trong tổ chức Đảng, Nhà nước, trong mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Từ những bài học về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở các nước Đông Âu và Liên Xô thập kỷ 80 thế kỷ XX cho thấy, hiện nay ở nước ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đang diễn ra ở các lĩnh vực của đời sống xã hội. Có thể nói “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sẽ làm cho nền kinh tế thị trường định hướng XHCN dần trượt sang nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa; làm cho hệ thống chính trị suy yếu dần và có thể dẫn tới tình trạng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, nền chuyên chính vô sản chuyển dần sang nền chuyên chính tư sản; nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc sẽ bị chuyển dần sang văn hóa thực dụng kiểu phương Tây.
Những hạn chế, bất cập, yếu kém trên các lĩnh vực của đời sống xã hội do sự tác động của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, sẽ làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước, vào vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên và tính ưu việt vốn có của chế độ XHCN. Những vấn đề trên nếu xuất hiện ngày càng phổ biến, tất yếu dẫn đến nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ XHCN ở nước ta sẽ trở thành hiện thực. Mặt khác, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong hệ thống chính trị, nhất là trong tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân sẽ dần làm suy yếu chế độ XHCN. Vì vậy, cần phải có chủ trương, giải pháp tích cực, kịp thời đấu tranh, ngăn chặn hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Khi trận địa tư tưởng được củng cố vững vàng, đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước thì chắc chắn chế độ XHCN sẽ được giữ vững.