MỘT SỐ NHẬN THỨC SAI LẦM VỀ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM


Trong khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang tưng bừng kỷ niệm 43 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2018) thì một số người lại cố tình xuyên tạc, phủ nhận giá trị và ý nghĩa của thắng lợi vĩ đại này. Họ cho rằng cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ năm 1954 -1975 xét cho cùng là “một cuộc nội chiến” và phủ nhận vai trò lãnh đạo cuộc kháng chiến của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mặc dù không phải ai cũng tin vào những luận điệu sai trái trên, song việc vạch trần, đấu tranh, bác bỏ các quan điểm trên là rất cần thiết nhằm bảo vệ thành quả cách mạng và khẳng định công lao to lớn của Đảng trong sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, Mỹ hất cẳng Pháp, nhảy vào Đông Dương với âm mưu biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa và căn cứ quân sự để mở rộng chiến tranh xâm lược miền Bắc, từng bước đè bẹp phong trào giải phóng dân tộc và ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa xã hội ở khu vực Đông Nam Á... Để thực hiện dã tâm này, đế quốc Mỹ dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm. Mỹ - Diệm thực hiện chính sách “tố cộng, diệt cộng”, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng ở miền Nam, từ tháng 7-1955 đến tháng 2-1956, chúng đã giết hại, giam cầm 93.362 cán bộ, đảng viên của ta. Giữa năm 1956, chúng tuyên bố từ chối Hiệp thương Tổng tuyển cử theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ và công khai hô hào “lấp sông Bến Hải” để “Bắc tiến”. Chính quyền Ngô Đình Diệm và sau đó là Chế độ Việt Nam Cộng hòa đều là “tay sai”, “đứa con đẻ” của Mỹ. Chúng ta hãy đọc vài lời thú nhận của các vị lãnh đạo cao cấp nhất ở miền Nam lúc bấy giờ, như Nguyễn Văn Thiệu: “Mỹ còn viện trợ, thì chúng tôi còn chống cộng. Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Độc Lập”; Nguyễn Văn Ngân: “Miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến chống cộng sản hoàn toàn bị phụ thuộc Hoa Kỳ, chúng ta không ở vào vị thế có thể đặt điều kiện với họ. Quân đội Mỹ muốn đến là đến, muốn đi là đi”; Nguyễn Cao Kỳ: "Ông Mỹ luôn luôn đứng ra trước sân khấu làm "kép nhất". Vì vậy ai cũng cho rằng thực chất đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi là những kẻ đánh thuê”... Với những lời thú nhận như trên, có thể coi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam là “một cuộc nội chiến” được không?
Mặt khác, theo nhà kinh tế học Mỹ Stec-ven: Mỹ đã phải xuất 549.500 quân và dốc hầu bao lên đến 8.881 tỉ USD, với những vũ khí hiện đại nhất thế giới lúc bấy giờ (trừ bom nguyên tử) để thực hiện âm mưu xâm lược Việt Nam và nếu ai còn “mụ mẫm” cho rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam là “một cuộc nội chiến” thì hãy đến trung tâm thủ đô Washington D.C, nơi có Khu tưởng niệm các lính Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam, tại đây có một bức tường dài, hình chữ V, làm bằng đá hoa cương, khắc tên của hơn 58.000 lính Mỹ đã thiệt mạng hoặc mất tích khi tham gia trong cuộc chiến tranh Việt Nam thì chắc rằng sự thật sẽ được sáng tỏ.
Không chỉ xuyên tạc tên gọi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta, một số kẻ còn phủ nhận vai lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.
Có nhiều nguyên nhân làm nên thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước: Đó là kết quả của cuộc chiến đấu đầy gian khổ hy sinh của nhân dân và quân đội cả nước, đặc biệt là của cán bộ, chiến sĩ và hàng chục triệu đồng bào yêu nước ở miền Nam ngày đêm đối mặt với quân thù; là kết quả của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, của đồng bào và chiến sĩ miền Bắc vừa chiến đấu vừa xây dựng, hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ của hậu phương lớn, hết lòng hết sức chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược; là kết quả của tình đoàn kết chiến đấu của nhân dân Việt Nam, Lào, Campuchia và kết quả của sự ủng hộ hết lòng và sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Sự ủng hộ nhiệt tình của phong trào công nhân và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới cũng như nhân dân tiến bộ Mỹ... Tuy nhiên, suy cho cùng, thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam - đại biểu trung thành cho những lợi ích dân tộc Việt Nam, một Đảng có đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo.
Vai trò của Đảng ta thể hiện ở việc đã sớm nhận rõ và đánh giá đúng kẻ thù, đưa ra chủ trương, đường lối phù hợp với từng thời điểm lịch sử, lãnh đạo đánh thắng kẻ địch từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.Với quan điểm khoa học, biện chứng và cách mạng, Đảng ta khẳng định: Mỹ và tay sai có quân đông nhưng không có cơ sở chính trị sâu rộng và vững chắc, tuy quân sự chúng còn mạnh, nhưng chính trị của chúng lại rất yếu mà yếu nhất là ở nông thôn. Do đó, Đảng ta xác định con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Từ chủ trương đúng đắn này, phong trào Đồng Khởi đã nổ ra và nhanh chóng phát triển thành cao trào, đưa cách mạng miền Nam chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, mở đầu thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta.
Cùng với việc nhận định và đánh giá đúng kẻ thù, Đảng ta đã giải quyết tốt mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam; luôn giữ vững quan điểm độc lập, tự chủ, thực hiện đường lối đối ngoại mềm dẻo, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các nước trên thế giới, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Chính sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt đó của Đảng là nhân tố quyết định  làm nên thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Do vậy, phủ nhận vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc là “mưu đồ đen tối” của các lực lượng chống cộng mù quáng. Những kẻ luôn cho rằng chỉ có cộng sản là ác, còn "quốc gia" hay Mỹ thì không. Họ cố tình lờ đi, không bao giờ nhắc đến những hành động tàn ác người lính quốc gia cũng như của người lính Mỹ mà ngày nay chúng ta không thiếu tài liệu chứng minh một cách rõ ràng, xác đáng.
Đã 43 năm trôi qua, kể từ ngày Đại thắng mùa Xuân năm 1975, nhưng ký ức hào hùng và niềm tự hào về chiến thắng oanh liệt đó vẫn vẹn nguyên trong mỗi chúng ta. Tự hào về Đại thắng mùa xuân năm 1975, về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, tự hào về truyền thống anh hùng của dân tộc và Quân đội, mỗi chúng ta hãy giữ vững niềm tin, nêu cao trách  nhiệm, ra sức phấn đấu vì mục tiêu: "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"./. 



KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN THẮNG LỢI CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC VĨ ĐẠI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM


Trong lịch sử nhân loại chưa có một đất nước nào phải chịu nhiều tổn thất, mất mát do chiến tranh, và chưa có cuộc chiến nào các liệt, dài ngày như cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam. 21 năm với bao mất mát hi sinh nhưng với tinh thần “không có gì quý hơn độc lập tự do” và dưới sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã chiến đấu kiên cường đánh Mỹ và thắng Mỹ bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử ngày 30/4/1975 đưa non sông thu về một mối, cả nước độc lập, thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Đánh giá về thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.
Đó là cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại, cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tố quốc tiêu biểu của dân tộc Việt Nam. Trải qua 21 năm chiến đấu, nhân dân Việt Nam đã đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới quy mô lớn nhất, dài ngày nhất, ác liệt và dã man nhất từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Đối với Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi đã kết thúc vẻ vang quá trình 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc bắt đầu từ Cách mạng tháng Tám năm 1945, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc kéo dài 117 năm, rửa sạch nỗi đau mất nước, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, bảo vệ và phát triển những thành quả của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, xóa bỏ mọi chướng ngại trên con đường thực hiện thống nhất đất nước. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên đất nước độc lập, thống nhất, xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đối với Mỹ, thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam - một cuộc chiến tranh hao người, tốn của nhất, là thất bại lớn và nặng nề, nhục nhã nhất chưa từng có trong lịch sử 200 năm của nước Mỹ.
Đối với thế giới, thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thắng lợi tiêu biểu của lực lượng cách mạng thế giới, phá vỡ một phòng tuyến quan trọng ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản của Mỹ ở Đông Nam Á, làm đảo lộn chiến lược toàn cầu của chúng, góp phần làm suy yếu hệ thống chủ nghĩa đế quốc, tăng thêm sức mạnh cho hệ thống xã hội chủ nghĩa, mở đầu sự phá sản của chủ nghĩa thực dân mới trên toàn thế giới; Góp phần thúc đẩy mạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì mục tiêu độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội; Cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới.
 Năm tháng qua đi nhưng thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chỗng Mỹ của nước vẫn còn sống mãi với dân tộc và non sông Việt Nam, và cho dù các thế lực thù địch có xuyên tạc, bịa đặt gì đi chăng nữa cũng không thể nào phủ nhận chiến thắng vĩ đại đó của dân tộc Việt Nam.      

XÓA BỎ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM - THUYẾT RẺ TIỀN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH


Có một điều chắc chắn rằng, tất cả các lực lượng cơ hội chính trị muốn chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam đều cùng chung một mục đích: Phải xóa bỏ Chủ nghĩa xã hội, Chúng cho rằng Chủ nghĩa xã hội sự ảo tưởng về một chế độ chính trị tốt đẹp. Hoặc gian xảo hơn họ liên hệ về hình mẫu các nước Bắc Âu để nói rằng có một con đường thứ ba, kết hợp giữa chủ nghĩa tư bản và dân chủ, nhân quyền sẽ tạo ra hạnh phúc. Dù luận điệu thế nào thì mục đích của chúng là muốn biến Việt Nam theo thể chế Tư bản chủ nghĩa.
Bây giờ hãy quay theo dòng chảy của lịch sử loài người để thấy được thuyết âm mưu của các tên cơ hội. Các nhà tư sản luôn cho rằng trước khi khi chưa có Tư bản thì lịch sử loài người luôn là những cuộc đấu tranh giai cấp. Nhưng khi họ xuất hiện thì sứ mệnh lịch sử đã hoàn thành và con người không còn mâu thuẫn giai cấp nữa. Loài người mãi mãi dừng lại chủ nghĩa tư bản. Hãy thử tưởng tượng, bạn quay về đế quốc La Mã và nói với họ rằng xã hội chiếm hữu nô lệ trên đỉnh cao văn minh nhân loại của họ sẽ bị các bộ tộc German dã man đánh bại và thay thế nó bằng một chế độ khác. Những người La Mã văn minh ấy sẽ trả lời bạn hệt như các vị tư sản ngày nay. Hoặc gần hơn nữa, hãy nhớ lại lập luận của các vị tư sản khi họ treo cổ đám vua chúa phong kiến lên, mặc dù đám vua chúa và quý tộc phong kiến đó giàu sang hơn họ nhiều. Lúc đó nếu ai dám nói với họ rằng chế độ tư bản chỉ là ảo tưởng, chỉ có các triều đình phong kiến là hiện thực thì chỗ của người đó sẽ là trên giá treo cổ, bên cạnh vua chúa và quý tộc các loại.
Như vậy tại sao các kẻ mang danh “nhà tư sản” lại không chấp nhận sự tồn tại của chế độ Xã hội chủ nghĩa? Hãy thừa nhận chủ nghĩa xã hội ra đời đó là quy luật của xã hội loài người, là quy luật của lịch sử, nó sinh ra khi chủ nghĩa tư bản đạt đến mức độ phát triển nhất định ngay chính trong lòng xã hội tư bản và sẽ thay thế chế độ tư bản. Quy luật ấy sẽ được thực hiện bằng sự lựa chọn của một số quốc gia nhất định
Tại sao người Việt Nam lựa chọn chủ nghĩa xã hội mà không chọn chủ nghĩa tư bản?
Nếu các “ngài tư sản” cho rằng hãy chọn con đường tư bản để được ấm no thì xin hỏi các ngài ngoài Bắc Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc thì hãy hãy nhìn về sự thành công ấy ở đâu khác trên thế giới. Việt Nam là một nạn nhân của chủ nghĩa tư bản thời đại đế quốc văn minh, dân chủ, nhân quyền phương Tây muốn đưa Việt Nam về thời kỳ đồ đá. Lịch sử chứng minh: Con đường chủ nghĩa tư bản không hứa hẹn đem lại bất cứ thứ gì tốt đẹp cho chúng ta.
Chủ nghĩa tư bản phát triển dựa trên quan hệ giữa các cá nhân độc lập với tư cách chủ sở hữu hàng hóa, quan hệ giữa họ là mua bán. Những phương thức sản xuất trước đó thì không dựa trên việc mua bán hàng hóa nên buộc phải dựa vào các mối quan hệ gia tộc, huyết thống và sự mở rộng nhất định của các thiết chế mang tính tập thể. Khi chủ nghĩa tư bản phát triển thì Việt Nam mới ở vào giai đoạn tan rã của chế độ phong kiến vì vậy các quan hệ xã hội và thiết chế mang tính tập thể của người Việt Nam vẫn còn rất mạnh. Chính yếu tố đó khi được trui rèn trong lò lửa của cách mạng giải phóng dân tộc suốt nửa sau thế kỷ 20 đã nuôi dưỡng trong lòng xã hội Việt Nam cái hạt nhân mạnh mẽ của chủ nghĩa xã hội. Lý trí của người Việt bắt nguồn từ hiện thực của người Việt chứ không phải là một ảo tưởng sùng bái vĩ nhân hay học thuyết ngoại lai nào đó. 
Nói tóm lại, lịch sử đã chọn con đường xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam vì trong lòng xã hội Việt Nam đã mang sẵn những mầm mống của nó, cho dù nước Việt Nam vẫn còn chưa được giàu mạnh. Một hình thành xã hội tư bản thì giai cấp tư sản của nó phải đủ mạnh, nhưng chính bản thân giai cấp tư sản ở Việt Nam lại chưa bao giờ đủ mạnh và độc lập. Giai cấp tư sản Việt Nam hình thành nhờ vào vai trò trung gian giữa đế quốc và người bản địa, thế nên dưới chế độ thuộc địa thì giai cấp tư sản lệ thuộc vào đế quốc. Sau này, khi kinh tế thị trường được phát triển trở lại ở Việt Nam, giai cấp tư sản bắt đầu hồi phục phát triển, chính họ cũng được ảnh hưởng tích cực từ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, họ được phép, thậm chí được ưu ái để làm giàu chính đáng miễn sao phải tôn trọng pháp luật. Những người tư sản chân chính ở Việt Nam họ luôn cảm thấy an tâm khi làm ăn trên quê hương mình. Mà cũng chính thể chế Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam còn kêu gọi được đầu tư của các nhà tư bản nước ngoài vào làm ăn. Đó là lý do tại sao nhân dân Việt Nam không chọn thể chế chính trị nào khác.
Sợ hãi trước trí tuệ và bản lĩnh của người Việt, những tên cơ hội chính trị, những tên a dua theo chúng (có thể nói họ là kẻ thiểu năng) không ngừng tìm cách bôi nhọ người Việt Nam (cũng nực cười thay, khi đó họ không xem bản thân là người Việt, hệt như Chí Phèo chửi cả làng Vũ Đại). Họ không ngừng lôi ra những cái gọi là thói hư tật xấu của người Việt Nam và so sánh với những gì gọi là văn minh, tốt đẹp của phương Tây (theo chủ nghĩa tư bản). Thật nực cười sao chính họ không chịu thay đổi… để xã hội tốt đẹp hơn.
Cần phải trả lời cái luận điệu "Phương Tây là văn minh và tốt đẹp, hãy học họ để văn minh và tốt đẹp chứ đừng biện minh cho bản thân bằng những vấn đề của họ" ra sao? Rất đơn giản, luận điệu đó dựa trên hai giả thuyết, thứ nhất là phương Tây văn minh tốt đẹp hơn Việt Nam, thứ hai là những cái văn minh và tốt đẹp ấy không gắn liền với các vấn đề của họ. Điều thứ nhất có thể chứng minh rằng đó là tâm thức của những kẻ nô lệ, không có bất cứ bằng chứng nào cho thấy phương Tây văn minh tốt đẹp hơn và phải "Thoát Á", đó là điều nhảm nhí. Cái tâm thức ấy rất điển hình của những tên nhà giàu chê bai chính quê hương của họ và bị những tên cơ hội chính trị dắt mũi, họ làm trung gian giữa các đế quốc phương Tây với bọn chống cộng (đội lốt các nhà dân chủ, tư sản) hòng mong muốn đưa mình lên một tâm thế mới lãnh đạo dân tộc. Phần thứ hai cũng có thể chứng minh đơn giản, các vấn đề của phương Tây gắn liền với những cái gọi là văn minh và tốt đẹp của phương Tây, đi theo con đường của phương Tây (hay chủ nghĩa tư bản) là chấp nhận những thứ đó. Hãy hiểu rằng cái mà bọn cơ hội chính trị muốn là chủ nghĩa tư bản phương Tây, còn tất cả những gì tệ hại như thất nghiệp, bần cùng, tội phạm… thì nhân dân lao động sẽ phải gánh chịu. Vì lẽ đó mà Việt Nam luôn kiên định với con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội và mỗi chúng ta hiểu thật rõ thuyết âm mưu của những tên cơ hội chính trị./. 


NHỮNG DIỄN BIẾN CHÍNH, KẾT QUẢ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC 30/4/1975


           Mùa Xuân năm 1975, quân và dân ta đã lập nên một chiến công vĩ đại nhất, tô thắm những trang sử vàng của dân tộc. Sau 55 ngày đêm thần tốc tiến công, chúng ta đã xóa sổ chế độ thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
           Ngày 29/3/1973, Hiệp định Paris được ký kết. Trên chiến trường, Mỹ đã chịu thất bại nặng nề và buộc phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam nhưng chúng vẫn ngoan cố dùng ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn để áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới để biến miền Nam thành một “quốc gia” thân Mỹ mà thực chất vẫn là thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Chúng bắt tay thực hiện các kế hoạch "tràn ngập lãnh thổ" và những cuộc hành quân "bình định" lấn chiếm vùng giải phóng, càn quét, giết hại vô số đồng bào vô tội của ta. Trước tình hình đó, Đảng ta khẳng định: “Bất kể trong tình huống nào, ta vẫn phải kiên định con đường cách mạng bạo lực, giữ vững chiến lược tiến công. Nhiệm vụ trước mắt là giữ vững và phát huy thế chủ động về mọi mặt của ta, kiên quyết phản công và tiến công địch...”
           Ngày 10-3-1975 cuộc Tổng tiến công chiến lược và nổi dậy được mở đầu bằng trận đánh táo bạo, bất ngờ của quân ta vào thị xã Buôn Mê Thuột - Một vị trí then chốt, hiểm yếu trong hệ thống phòng ngự của quân địch ở Tây Nguyên. Trận đánh trúng vào “tử huyệt” đó đã làm rung chuyển toàn bộ Tây Nguyên và là hồi chuông báo động cho sự sụp đổ của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn. Mặc dù chưa kịp hoàn hồn sau thất bại nặng nề và choáng váng đó nhưng quân Mỹ - Ngụy buộc phải tức tốc rút khỏi Kon Tum, Plây Cu (24/3/1975) và cả vùng Tây Nguyên rộng lớn đã được giải phóng hoàn toàn.
Một cao trào tiến công và nổi dậy đã dâng lên mạnh mẽ ở các tỉnh ven biển miền Trung, Tây Nguyên... Các tỉnh thành được giải phóng với một nhịp độ dồn dập: Quảng Ngãi (24/3), Huế (25/3), Quảng Nam (28/3), Thành phố Đà Nẵng; Hội An (29/3), Bình Định, Phú Yên (01/4), Lâm Đồng (02/4), Khánh Hòa (03/4). Từ 14-4 đến 29-4 giải phóng hoàn toàn các đảo thuộc quần đảo Trường Sa do quân ngụy chiếm giữ. Ngày 16-4, quân ta giải phóng Phan Rang (Ninh Thuận), đến ngày 19-4, quân ta đã giải phóng Bình Thuận và hoạt động mạnh trên hướng đông, đánh vào Xuân Lộc. Ngày 21-4, sau những trận chiến đấu ác liệt, quân địch ở Xuân Lộc buộc phải rút chạy. Cùng ngày, Nguyễn Văn Thiệu - Tên tay sai đắc lực của Mỹ, buộc phải từ chức và chạy trốn ra nước ngoài. Từ 17 giờ, ngày 26-4, quân ta mở cuộc tiến công lớn trên hướng đông và nam Sài Gòn, xiết chặt vòng vây chung quanh Sài Gòn. Ngày 28-4, không quân ta tiến công sân bay Tân Sơn Nhất và tất cả các cánh quân lớn của ta đã bao vây chặt Sài Gòn. Giờ “tận số” của chế độ Mỹ - ngụy đã điểm! Hoảng loạn, vội vã, hàng vạn nhân viên quân sự, dân sự và bọn tay sai đầu sỏ tháo chạy khỏi miền Nam. Mỹ đã cố xoay trở để cứu vãn tình thế, nhưng chúng đã phải bó tay và cuối cùng phải bỏ cuộc.
Đúng 0 giờ ngày 29-4-1975, các binh đoàn chủ lực hùng mạnh của ta từ nhiều hướng đồng loạt tổng công kích vào Sài Gòn - Sào huyệt cuối cùng của kẻ thù. Với ưu thế áp đảo, quân ta ào ạt tiến công, vừa bao vây tiêu diệt địch ở vòng ngoài, vừa thần tốc, táo bạo thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu quan trọng ở bên trong. Lực lượng tại chỗ và quần chúng trong và ngoài thành phố đã nổi dậy, phối hợp với các binh đoàn chủ lực.
Sáng ngày 30-4, một mũi thọc sâu của quân ta đánh thẳng vào trung tâm thành phố, nhanh chóng chiếm phủ tổng thống ngụy. Ngụy quyền trung ương ở Sài Gòn đã phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975 lịch sử, lá cờ cách mạng phấp phới tung bay trên nóc "dinh Độc Lập" - Phủ tổng thống ngụy. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã toàn thắng. Miền Nam nước ta đã hoàn toàn giải phóng. Chỉ tính riêng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (26/4/1975 - 30/4/1975) quân ta đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân chủ lực, quân địa phương thuộc Quân khu III ngụy, lực lượng tổng dự bị còn lại, tàn quân của các Quân khu I, II chạy về; diệt và làm tan rã khoảng 269.000 tên. Trong đó: Bắt sống 167.000 tên, thu 276.000 súng các loại, 409 xe tăng, thiết giáp, 858 máy bay các loại, 6.457 tàu, xuồng chiến đấu, 3.296 xe ô tô và nhiều phương tiện chiến tranh khác...
          Khi nói về thất bại đau đớn này, Mácxoen Taylo - Nguyên đại sứ Mỹ ở miền Nam Việt Nam, nhà chiến lược quân sự có tên tuổi của Mỹ đã phải cúi đầu, thừa nhận: “Tất cả chúng ta đều có phần của mình trong thất bại của Mỹ ở Việt Nam và chẳng có gì là tốt đẹp cả. Chúng ta không hề có một anh hùng nào trong cuộc chiến tranh này mà chỉ toàn là một lũ ngu xuẩn. Chính tôi cũng nằm trong số đó”.
          Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta là một trong những chiến công vĩ đại của thế kỷ XX. Năm tháng trôi qua càng làm nổi bật tầm vóc và ý nghĩa lịch sử về một trang sử hào hùng trên con đường dựng nước và giữ nước suốt mấy nghìn năm. Nhân dân ta đã đánh thắng kẻ thù lớn mạnh nhất của loài người tiến bộ trong thế kỷ XX; kết thúc oanh liệt cuộc chiến đấu suốt 30 năm dành độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc; chấm dứt ách thống trị kéo dài hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước còn đánh dấu bước ngoặt rất cơ bản, quyết định của con đường cách mạng mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra trong Chính cương vắn tắt năm 1930 - Con đường độc lập và chủ nghĩa xã hội. Qua chiến thắng dành được từ cuộc chiến này đã làm cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta được trải nghiệm và rèn luyện cả về phẩm chất, tài năng và càng nhận thức sâu sắc hơn, đúng đắn hơn vị trí, khả năng, sức mạnh của mình trong thời đại mới; đưa vị thế của Việt Nam trên thế giới lên một tầm cao mới. Thắng lợi đó, còn làm sáng tỏ tính hiện thực, tính phổ biến của xu thế phát triển của loài người tiến bộ, góp phần động viên, cổ vũ các dân tộc dũng cảm, kiên cường giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; trực tiếp góp phần to lớn vào công cuộc giải phóng dân tộc của nhân dân hai nước láng giềng Lào và Campuchia. Sức mạnh của Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân và dân ta đã làm tiêu tan huyền thoại về “sức mạnh không thể tưởng tượng nổi của đế quốc Mỹ” và khẳng định sức mạnh của cuộc chiến tranh phi nghĩa tất yếu sẽ bị thất bại trong cuộc đọ sức với một nước nhỏ, kinh tế nghèo nàn, lạc hậu như Việt Nam.
          Tóm lại, thắng lợi trong Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử sẽ mãi mãi là vũ khí tư tưởng, là niềm tin bất diệt cho nhân dân ta thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.    

TUỔI TRẺ VIỆT NAM HÃY HỌC BÁC NHỮNG ĐIỀU THIẾT THỰC NHẤT


Tuổi trẻ hôm nay sinh ra chưa một lần được gặp Bác nhưng tư tưởng, tấm gương đạo đức của Người mãi mãi khắc ghi trong trái tim với sự ngưỡng mộ tôn kính và lòng biết ơn vô hạn.
Được sinh ra và lớn lên trong hòa bình, không phải chịu sự đau thương của cảnh “nước mất nhà tan”, sự đô hộ của bọn thực dân phong kiến và những mất mát hi sinh của những cha anh đã trải qua, vì độc lập tự do của tổ quốc… tuổi trẻ chúng tôi hiểu rằng hạnh phúc ngày hôm nay được tiếp nối bằng truyền thống anh hùng, của dân tộc, bằng những bước đi trên con đường cứu nước của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (1911), bằng bao xương máu của các chiến sĩ đã hy sinh quên thân mình để bảo vệ, giữ chặt từng tấc đất biên cương của Tổ quốc, các anh đã làm nên những chiến công lừng lẫy, đập tan ách đô hộ và chiếm đóng của đế quốc Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược đem lại hoà bình, độc lập, tự do cho đất nước…
Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp đó, những đoàn viên trẻ hôm nay đang tiếp bước cha anh đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào sự nghiệp đổi mới, hội nhập và phát triển của đất nước, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đưa Việt Nam sánh vai với các cường quốc Năm châu như Bác Hồ kính yêu hằng mong ước. Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị trường cũng đang làm khuynh đảo nhiều giá trị cao đẹp của đời sống xã hội, có một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, làm nghèo đất nước, làm giảm lòng tin của nhân dân, ảnh hưởng không ít đến tư tưởng của lớp trẻ. Nhưng lớp trẻ chúng tôi luôn hướng tới tương lai, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự phát triển của đất nước và học hỏi gương các bậc tiền nhân từ đó ra sức phấn đấu, học tập và rèn luyện vượt qua các cạm bẫy tiêu cực để cống hiến nhiều hơn cho Tổ quốc.
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chủ yếu là học tập lòng yêu nước, thương dân bao la của Bác, là làm theo lời Bác dạy: “Mọi việc thành hay bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay là không”; “phải có chính trị trước rồi có chuyên môn”; “chính trị là đức, chuyên môn là tài. Có tài mà không có đức là hỏng... Đức phải có trước tài”; “cũng như sông thì có nguồn mới có nước. Không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức. Không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân...”. Vì vậy, cần phải nghiêm túc phê và tự phê bình, kiên quyết chống quan liêu, chống chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, lãng phí tiêu cực, để xây dựng bằng được nếp sống đẹp, sống giản dị, chân thành, khiêm tốn, hết lòng vì dân, vì nước, nói phải đi đôi với làm; phải ra sức học tập, không ngừng nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ, không ngừng tu dưỡng đạo đức cách mạng. Trong xu thế hội nhập kinh tế, quốc tế hiện nay, việc học tập đạo đức và lối sống của Bác phải càng được coi trọng và đẩy mạnh thực hiện.
Là những đoàn viên trẻ, nguồn nhân lực quan trọng trong thời kỳ hội nhập và phát triển của đất nước cần phải có những ý tưởng, sáng kiến làm theo lời Bác gắn với năng suất, chất lượng, hiệu quả trong công việc. Nếu không làm được điều này thì chỉ là hô khẩu hiệu suông. Để góp phần đẩy mạnh Cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, tôi nhận thấy nên đặc biệt quan tâm phát hiện, biểu dương điển hình tiên tiến, nhân tố mới, người tốt, việc tốt, nét đẹp đời thường, nét đẹp trong cuộc sống hàng ngày, để “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Trong cuộc vận động nên coi việc rèn luyện đạo đức cách mạng là thước đo lòng cao thượng của mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên. Bất kỳ ai có những việc làm tốt thể hiện được đạo đức của người Việt Nam, thì tùy theo mức độ mà biểu dương, khen thưởng, tuyên truyền và nhân rộng.
Trong điều kiện sống thuận lợi với những thời cơ và vận hội đang mở ra trước mắt, tuy nhiên còn không ít khó khăn, song thanh niên chúng tôi yêu Đảng, yêu Bác Hồ và đặt niềm tin tưởng tuyệt đối vào những chủ trương đường lối đúng đắn mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Tôi tin tưởng rằng, bằng lý tưởng của tuổi trẻ dám nghĩ dám làm chắc chắn chúng tôi sẽ tham gia thực hiện Cuộc vận động thực sự có chất lượng, hiệu quả./.