“Lực lượng 47” và sự lo sợ của những kẻ phản dân, hại nước



Những phần tử phản động, cực đoan tiếp tay cho các thế lực thù địch, lợi dụng công nghệ thông tin tuyên truyền, kích động, gây hận thù, nói xấu chính quyền, vu khống, xuyên tạc, bôi nhọ các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam; xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam, phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam chắc chắn sẽ bị lực lượng 47 đấu tranh, vạch trần và loại bỏ.
Do vậy, dù âm mưu, thủ đoạn, hình thức chống phá của các thế lực thù địch như thế nào và tinh vi xảo quyệt đến đâu cũng sẽ thất bại hoàn toàn. Đó là điều chắc chắn.

"Nhân cách" người cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tư tưởng Hồ Chí Minh

      Nhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị là sự tổng hòa các yếu tố về phẩm chất và năng lực, trong đó nổi lên là vấn đề đạo đức. Việc rèn luyện nhân cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý là một nhiệm vụ then chốt, thường xuyên của công tác cán bộ. Trong điều kiện hiện nay, tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là cơ sở để xây dựng nhân cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhằm góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.
     Theo Hồ Chí Minh, nhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản lý trước hết biểu hiện ở lòng "trung với nước, hiếu với dân". Người coi trung với nước, hiếu với dân là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất của đạo đức cách mạng và là một yếu tố cơ bản của nhân cách người cán bộ, đảng viên. Trong điều kiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trung với nước là dám xả thân vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, dẫu biết rằng đi làm cách mạng thì có thể bị tù đày, lên máy chém, ra pháp trường.... 
      Ngày nay, trong hòa bình xây dựng, những điều kiện ấy không còn, nhưng những thử thách không kém phần nghiệt ngã vẫn còn đó đối với người cán bộ lãnh đạo, quản lý. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, trung với nước là phải đặt quyền lợi của Tổ quốc, của Đảng lên trên hết, trước hết. Người cán bộ lãnh đạo, quản lý là người giữ trọng trách trong bộ máy của hệ thống chính trị càng cần có đức tính hy sinh cho lợi ích của Đảng, của Tổ quốc. Điều này càng đặc biệt quan trọng trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khi các lợi ích đặt ra cho mọi người, trong đó có lợi ích cá nhân trong mối quan hệ với lợi ích của tập thể và lợi ích của Tổ quốc. 
    Đảng ta là Đảng cầm quyền, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý càng phải gần dân, hiểu dân, vì dân, thực hiện đúng quan điểm của Hồ Chí Minh: Đảng, Chính phủ, cán bộ, đảng viên là công bộc của dân, vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Sức mạnh của Đảng, của cả hệ thống chính trị; trí tuệ và xung lực của người cán bộ lãnh đạo, quản lý là lấy từ nơi dân, cho nên dân luôn luôn là gốc của cách mạng. Chúng ta không thể chấp nhận tình trạng hiện nay ở không ít nơi, không ít người trong bộ máy của hệ thống chính trị xa dân, không tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, mị dân, theo đuôi quần chúng. Người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải luôn thấm nhuần quan điểm của Hồ Chí Minh: việc gì có lợi cho dân dù nhỏ cũng cố làm; việc gì có hại cho dân dù nhỏ cũng cố tránh; phải làm cho dân giác ngộ; chớ có "vác mặt quan cách mạng" để "đè đầu cưỡi cổ nhân dân"; đừng có tưởng cứ "dán lên trán hai chữ cộng sản" là dân tin, dân yêu, dân kính, dân phục mà phải thực sự yêu dân, kính dân.
    Hồ Chí Minh cho rằng, hiếu với dân còn bao hàm cả hiếu với cha mẹ, có tình yêu thương trong gia đình, nghĩa là có một “đời tư trong sáng”. Đứng trước dân, đang ở vị trí lãnh đạo, quản lý mà người cán bộ, đảng viên nêu gương xấu, gương mờ trong đời tư thì tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng không lãnh đạo, quản lý được ai một cách thực chất; nói không ai nghe, làm không ai theo, là đạo đức giả, gây phản cảm. 
     Nhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản lý còn biểu hiện ở đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư - điều mà Hồ Chí Minh rất coi trọng trong việc rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Ngoài việc đòi hỏi người cán bộ phải cần cù, siêng năng, chịu khó, biết vượt qua khó khăn, gian khổ để làm việc, còn là yêu cầu tăng năng suất lao động. Đáng chú ý là tình trạng lãng phí ở nước ta hiện nay diễn ra khá nặng và đang có chiều hướng nghiêm trọng hơn. Hồ Chí Minh chỉ rõ: cần phải đi đôi với kiệm; cần mà không kiệm thì tiền như “gió vào nhà trống”. Kiệm không có nghĩa là bủn xỉn, mà là việc gì đáng chi thì phải chi, việc gì chưa đáng chi thì khoan hẵng chi, việc gì không đáng chi thì dứt khoát không chi. Người cán bộ lãnh đạo, quản lý là những người nắm quyền, nắm tiền, nếu không chịu rèn luyện đức tính tiết kiệm theo quan điểm và tấm gương của Hồ Chí Minh thì rất dễ bị tha hoá về nhân cách. Liêm là liêm khiết, là trong sạch, không tham ô, tham lam. Hiện nay, người cán bộ lãnh đạo, quản lý không những cần rèn cho mình đức tính không tham lam, không tham nhũng mà còn phải đấu tranh không khoan nhượng chống lại những biểu hiện tham nhũng. Người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có thái độ rõ ràng, trong cuộc sống và công tác luôn yêu cái thiện, ghét cái ác; luôn hành động, làm gương cho mọi người, chống chủ nghĩa cá nhân, coi khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, coi thường tập thể, quan liêu, mệnh lệnh....
    Trong thời đại ngày nay, sự nghiệp đổi mới đất nước ta đang cần lắm những tấm gương mẫu mực, theo đúng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, không chút bụi mờ, có tác dụng nhân lên sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhằm thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Người giữ chức vụ càng cao, trọng trách càng lớn thì càng đòi hỏi tấm gương phải trong hơn, sáng hơn. Tự mình không là tấm gương trong sáng thì không thể nào lãnh đạo được quần chúng, đó là điều hiển nhiên, sơ đẳng trong tiến trình cách mạng nước ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Cảnh giác với mục tiêu "phi chính trị hóa" Quân đội của các thế lực phản động

     Một trong những mục tiêu chống phá trọng điểm trong Chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là công kích, xuyên tạc, hạ thấp uy tín, vị trí, vai trò của Quân đội ta, chia rẽ Quân đội với Đảng và nhân dân, làm phai mờ bản chất cách mạng, phá hoại sức mạnh của Quân đội. Vì vậy, nâng cao cảnh giác, chủ động nhận diện và kiên quyết đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn xấu độc nhằm vào Quân đội là yêu cầu cấp thiết hiện nay.
     Trước hết, các thế lực thù địch tập trung chống phá nhằm làm suy yếu Quân đội về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức. Mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch là “phi chính trị hóa” quân đội, tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Chúng triệt để lợi dụng tính ưu việt của công nghệ thông tin, sức lan truyền của các trang mạng xã hội để phát tán những tài liệu, luận thuyết có vẻ “khách quan”, “khoa học” rằng: Chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã “lỗi thời” và không còn phù hợp với thời đại, cũng như không còn chủ nghĩa xã hội hiện thực. Đây thực chất là cách gây nhiễu, nhằm chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Ngoài ra, chúng còn tìm cách cài xen nội dung tuyên truyền hoạt động của Quân đội thông qua diễn đàn khoa học, phát tán tài liệu, rải tờ rơi, “phiếu cung cấp thông tin”, thư điện tử; cổ xúy việc viết “thư góp ý”, “hồi ký” của cán bộ quân đội lão thành… nhằm gieo rắc tâm lý mơ hồ, hoài nghi, thiếu tin tưởng của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
    Về tổ chức, chúng lợi dụng chủ trương tinh gọn và hiện đại hóa một số lực lượng trong Quân đội để kích động chia rẽ nội bộ Quân đội, giữa các thành phần trong lực lượng vũ trang nhân dân. Đặc biệt, chúng triệt để khai thác những vấn đề còn bất cập trong công tác bổ nhiệm cán bộ, thăng, phong quân hàm để nói xấu, chia rẽ và làm suy yếu Quân đội về tổ chức. Bằng cách lợi dụng, sử dụng những phần tử cơ hội chính trị, bất mãn...Họ chú trọng hướng tới việc tuyên truyền, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhất là đối với cán bộ, sĩ quan trẻ. Họ cho rằng: “lớp cộng sản cha kiên trung khó đánh, còn lớp cộng sản con không được tôi luyện, thử thách trong chiến tranh, thích hưởng thụ, nên dễ đánh hơn”. Và từ đó, ra sức tuyên truyền lối sống tư sản, ăn chơi, sa đọa, hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ suy thoái về tư tưởng chính trị.
     Về đạo đức, họ tập trung khoét sâu vào điểm yếu, lờ đi những thành tích, việc làm tốt của Quân đội, thổi phồng những hạn chế, yếu kém để phủ nhận, xuyên tạc bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, v.v. Trên thực tế, những âm mưu, thủ đoạn chống phá đó đã làm một số người nhẹ dạ, cả tin, mơ hồ, mắc mưu.
     Không dừng lại ở đó, thời gian gần đây, họ còn đẩy mạnh tuyên truyền kích động, chia rẽ mối đoàn kết máu thịt quân - dân và xuyên tạc bản chất, truyền thống, hạ thấp uy tín của Quân đội. Đây là thủ đoạn hết sức nham hiểm, nhằm phá vỡ nền tảng chính trị - xã hội của Quân đội ta. Điểm dễ nhận thấy là, họ thường lợi dụng tình hình khó khăn của đất nước để quy kết, kích động, chia rẽ quan hệ quân - dân và bản chất, truyền thống, chức năng của Quân đội và cho rằng “bản chất Bộ đội Cụ Hồ không còn nữa”. Điển hình như, lợi dụng sự thiệt hại ở các tỉnh miền Trung do cơn bão số 12 gây ra, một số kẻ giả nhân, giả nghĩa lớn tiếng kêu rằng “Quân đội ở đâu, cán bộ ở đâu trong giờ này?”, và rằng: “Quân đội chỉ lo đi làm kinh tế, bỏ mặc dân chúng”, v.v.
  Có thể nói, âm mưu, thủ đoạn chống phá Quân đội của các thế lực thù địch, phản động là hết sức thâm độc, nguy hiểm; vừa ngấm ngầm, tinh vi, xảo quyệt, vừa công khai trắng trợn. Họ kết hợp cả lực lượng bên ngoài và bên trong để chống phá Quân đội trên tất cả các lĩnh vực hoạt động; sử dụng các phương tiện, các hình thức, biện pháp,… hòng chia rẽ Quân đội với Đảng và nhân dân, hạ thấp uy tín, bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” của Quân đội ta.
    Cảnh giác, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xấu độc của các thế lực thù địch nhằm vào Quân đội, chúng ta cần tiến hành đồng bộ các biện pháp giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, ngăn ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.  Đồng thời, nâng cao cảnh giác, kịp thời nhận diện và chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, có biện pháp quản lý, ngăn chặn, vô hiệu hóa các “kênh” thông tin mà kẻ địch thường sử dụng để truyền bá quan điểm, luận điểm xuyên tạc, phản động; phát huy vai trò và nâng cao chất lượng hoạt động của lực lượng 47,…; dự báo những tình huống phức tạp nảy sinh về tư tưởng chính trị trong cán bộ, chiến sĩ và xác định biện pháp giải quyết phù hợp, hiệu quả; khắc phục tình trạng triển khai hoạt động đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” một cách hình thức, thụ động, mang tính “thời vụ”./.

ĐỐT ĐUỐC, SOI CHÂN MÌNH


 - Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện những giọng điệu lạc lõng của một số người tự gắn mác là “người yêu nước”, “nhà dân chủ”, “trí thức”, “học giả” cho rằng, chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang tới Ấn Độ đầu tháng 3 vừa qua diễn ra cùng thời điểm tàu sân bay Mỹ thăm Đà Nẵng thực chất là củng cố mối quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia có tiềm lực quân sự để đối phó với nước thứ ba ở Biển Đông...
     Mục đích của những giọng điệu trên không gì khác là nhằm xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta, chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới. Tuy nhiên, việc làm lỗi thời nhằm mưu đồ xấu dù khéo che đậy đến đâu cũng bị "lòi đuôi"...
Đây không phải là lần đầu tiên những giọng điệu xuyên tạc, suy diễn vô lối kiểu như vậy xuất hiện trên mạng xã hội. Trong lập luận của những người tự xưng là “người yêu nước”, “nhà dân chủ”, “trí thức”, “học giả”, chuyến thăm Ấn Độ của Chủ tịch nước Trần Đại Quang và chuyến thăm của tàu sân bay Mỹ đến Đà Nẵng nhằm mục đích “tạo dựng liên minh” để chống lại nước thứ ba(!). Họ cho rằng, việc tàu sân bay USS Carl Vinson của Hải quân Mỹ đến Việt Nam, cũng như các chuyến thăm tiếp theo tới Malaysia và Philippines có mục đích khẳng định sự thống trị của Mỹ trong khu vực Thái Bình Dương. Trong ngôn từ của họ ẩn ý một thông điệp rằng “muốn bảo vệ chủ quyền của mình, Việt Nam nên liên kết với Mỹ”.
Thế nhưng, người dân Việt Nam đâu mấy quan tâm tới những giọng điệu xuyên tạc trên. Đơn giản là vì đây không phải là lần đầu tiên tàu sân bay của Mỹ đi qua Biển Đông. Và đây cũng không phải là lần đầu tiên Hải quân Mỹ thực hiện những chuyến tuần tra trong khu vực này. Tàu sân bay Mỹ vẫn có mặt trên tất cả đại dương (trừ Bắc Băng Dương) và các vùng biển lớn trên thế giới, trong đó có Biển Đông, nên việc tàu sân bay Carl Winson ghé cảng Đà Nẵng không phải là điều gì đặc biệt.
Thế nên, chiêu trò cũ rích trên không khác gì “vở diễn tồi” trên sân khấu vắng khán giả. Lợi dụng sự tự do internet, tự do ngôn luận ở Việt Nam, các thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta, trong đó có hoạt động đối ngoại. Họ cho rằng hoạt động đối ngoại của Việt Nam bị lệ thuộc, chi phối bởi nước ngoài... Mục đích của chúng nhằm cổ xúy cho chủ nghĩa vô chính phủ, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, kích động bạo lực, kích động chiến tranh và hận thù dân tộc, từ đó hòng hạ thấp vị thế của Việt Nam, chia rẽ quan hệ giữa Việt Nam với các nước, đặc biệt là làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay.
Tuy nhiên, chúng đã nhầm!   
Sau hai cuộc kháng chiến giành độc lập, giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, Đảng và Nhà nước ta đã rút ra bài học về “độc lập, tự chủ”, coi đây là kim chỉ nam trong đường lối đối ngoại của đất nước. Kế thừa, bổ sung và phát triển những nội dung cơ bản của đường lối đối ngoại đã đề ra từ các kỳ đại hội trước, Đại hội XII, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế nhằm phục vụ mục tiêu: “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”(1). Trong bối cảnh thế giới đang diễn biến phức tạp, trước yêu cầu mới của cách mạng, Đảng ta còn yêu cầu phải “nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu”.
Cho đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 185 nước, trong đó có tất cả các nước lớn, có quan hệ thương mại-đầu tư với hơn 230 nước và vùng lãnh thổ. Chúng ta đã thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược với 16 nước, quan hệ Đối tác toàn diện với 11 nước, trong đó có 5 nước lớn Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược, Đối tác toàn diện nhằm mở rộng và duy trì quan hệ quốc tế, góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, lãnh thổ và lợi ích quốc gia-dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, củng cố quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, tiếp tục nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Mới đây, trong chuyến thăm Australia của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, hai bên đã ký Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam-Australia. Theo Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Quốc Dũng, với việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược với Australia, “Việt Nam đã dần hoàn thiện khuôn khổ hợp tác với các đối tác quan trọng ở tất cả châu lục, góp phần khẳng định vai trò, vị thế của ta ở khu vực và trên thế giới”.
Bên cạnh đó, Việt Nam chủ động, tích cực tham gia những công việc chung của cộng đồng quốc tế, các diễn đàn, tổ chức khu vực và quốc tế, nâng cao vị thế của đất nước. Việt Nam cũng tham gia tích cực, có trách nhiệm vào các định chế đa phương quốc tế như IMF, WB, WTO, Liên hợp quốc và các tổ chức thành viên, các diễn đàn đa phương như: Tổ chức các nước không liên kết, Nhóm các nước G77... để nâng cao vị thế quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam.
Song song với hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước, đối ngoại quốc phòng thời gian qua cũng diễn ra sôi động không kém. Không chỉ là hoạt động trao đổi đoàn các cấp, các hoạt động giao lưu giữa Quân đội nhân dân Việt Nam với quân đội các nước diễn ra với tần suất ngày một nhiều. Cảng Hải Phòng, cảng Tiên Sa (Đà Nẵng), cảng Cam Ranh (Khánh Hòa), cảng quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh là những nơi thường xuyên đón các tàu quân sự nước ngoài tới thăm, giao lưu, góp phần tăng cường sự hiểu biết giữa Quân đội nhân dân Việt Nam với quân đội các nước cũng như giúp các bạn nước ngoài hiểu hơn về đất nước và con người Việt Nam, về chủ trương hội nhập của Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam…
Nhờ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa; nhờ không liên minh với nước nào nhằm chống nước thứ ba nên Việt Nam không những không bị lệ thuộc, không bị cô lập mà còn có điều kiện để chủ động, tích cực mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế; có điều kiện để giữ vững được độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, đổi mới, phát triển và đã trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Bên cạnh đó, chính sách đối ngoại quốc phòng “3 không” của Việt Nam (không liên minh, liên kết; không đi với nước này chống nước kia; không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam) là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với thực tế.
Nói như vậy để thấy, “vở diễn” mà các thế lực thù địch dựng lên có một kịch bản tồi như thế nào. Những lời “gan ruột”, nhận xét, góp ý “chân thành”, “tâm huyết” của chúng chỉ là cách nhìn phiến diện, lệch lạc, nhằm xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam. Tuy nhiên, những giọng điệu ấy dù có xảo quyệt, tinh vi đến đâu đi chăng nữa cũng không thể xuyên tạc được sự thật lịch sử, không thể phủ nhận được thực tế sinh động đang diễn ra, không thể đánh lừa được dư luận.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đúc kết: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”; “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”; “Tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính”… Kinh nghiệm lịch sử cũng cho thấy, dựa vào nước khác không những không bảo vệ được chủ quyền, thậm chí còn mất luôn cả quyền độc lập về chính trị, quyền tự quyết của dân tộc. Sự phụ thuộc của một số quốc gia trên thế giới hiện nay càng khẳng định rõ thêm tính đúng đắn trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Thế mới hay, dù diễn ra ở đâu, dưới hình thức nào và được che đậy đến đâu, mọi việc làm lỗi thời nhằm mưu đồ xấu cũng sớm bị "lòi đuôi". Tục ngữ Việt Nam có câu:
Chân mình thì lấm bề bề
Lại cầm bó đuốc đi rê chân người.
Vậy nên, những ai tự xưng là “người yêu nước”, “nhà dân chủ”, “trí thức”, “học giả” trên hãy tự đốt đuốc soi chân mình trước khi đưa ra những quan điểm lỗi thời chống lại chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam.


ĐÔI ĐIỀU VỀ TÁC HẠI CỦA TỆ THAM NHŨNG ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM


Tham nhũng có rất nhiều biểu hiện khác nhau, những tựu chung lại là những kẻ có lòng tham như “thuyền không đáy” muốn lấy của chung làm của riêng, biến tiền bạc, tài sản của nhà nước, của nhân dân thành của mình. Những kẻ làm ít hưởng nhiều, không muốn làm nhưng lại muốn hưởng, muốn sống trên sức lao động của người khác, …Những kẻ tham nhũng thường là những người có địa vị, quyền hạn nhất định và đặc biệt là liên quan đến quản lý tiền bạc, tài sản của tập thể của nhà nước, của nhân dân.
Để đạt được mục đích xấu xa của mình chúng tìm mọi cách, mọi cơ hội để thực hiện các thủ đoạn lừa gạt, luồn lách, né tránh, trục lợi, thu gom sao tiền bạc, tài sản, quyền lực của mình không ngừng tăng lên. Vì mục đích tư lợi cá nhân nên có kẻ đã chà đạp lên pháp luật, lương tâm và nhân phẩm con người để thực hiện các hành vi sai phạm. Có kẻ làm luật nhưng lại vi phạm pháp luật, kẻ phòng chống tội phạm nhưng lại “bảo kê” cho tội phạm… Có thể nói tham nhũng là một thứ giặc nội xâm rất nguy hiểm, đe dọa sự tồn vong của chế độ xã hội.  Nó luôn giấu mặt vô hình nhưng có thể xuất hiện ở mọi nơi, mọi chỗ, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó. Những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân.
Ngày nay, trong điều kiện toàn cầu hóa, quá trình hội nhập kinh tế diễn ra mạnh mẽ, thì nạn tham nhũng trở nên cực kỳ nguy hiểm, nó không chỉ là bạn đồng minh, đồng hành mà còn như một thứ công cụ đắc lực trợ giúp cho các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta.
Nó làm suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên; phá vỡ sự đoàn kết và sức mạnh của các tổ chức dẫn đến tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” và cuối cùng chúng làm biến màu các tổ chức của chúng ta. Biểu hiện ở tình trạng tham ô, tham nhũng thường xảy ra tràn lan trong các tổ chức quản lý kinh tế, tài chính… nếu không kịp thời có biện pháp ngăn chặn thì lòng tin của dân với Đảng bị suy sụp, trật tự xã hội trở nên rối ren, phức tạp…
Phòng ngừa, đấu tranh với tham nhũng không những góp phần làm cho Đảng ta trong sạch, vững mạnh mà còn góp phần tích cực làm thất bại âm mưu chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch hòng thúc đẩy “tự diễn biến, tự chuyển hoá” trong nội bộ Đảng ta hiện nay.