CHỈNH ĐỐN NHÂN SỰ TRONG NỘI BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ ĐIỀU HẾT SỨC BÌNH THƯỜNG


Mấy ngày gần đây, câu chuyện về thay đổi nhân sự ở Thành ủy Đà Nẵng vẫn là chủ đề nóng mà các đối tượng xấu lợi dụng để “chọc ngoáy” nhằm chia rẽ nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam khi đang diễn ra Hội nghị Trung ương VI (Khoá XII), gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân.
Thiết nghĩ, chỉnh đốn, kiện toàn tổ chức là việc làm thường xuyên của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ lãnh đạo trong điều kiện Đảng cầm quyền. Do đó, khi có cấp uỷ viên của Thành ủy Đà Nẵng vi phạm kỷ luật, gây dư luận xấu, Bộ Chính trị đã chỉnh đốn, kiện toàn lại bộ máy, đặc biệt là người đứng đầu thành ủy là điều hết sức bình thường.
Như trên nhiều trang tin đã đưa, sáng 7/10, Bộ Chính trị đã quyết định phân công ông Trương Quang Nghĩa, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải làm Bí thư Thành ủy Đà Nẵng. Trước đó 01 ngày, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã kỷ luật ông Nguyễn Xuân Anh bằng hình thức cách chức Bí thư Thành ủy Đà Nẵng.
Đà Nẵng là một thành phố lớn của Việt Nam, là một trong những địa phương năng động, phát triển, một thành phố “đáng sống”. Việc thay thế người đứng đầu Thành uỷ Đà Nẵng là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của thực tiễn hiện nay. Hơn nữa, ông Trương Quang Nghĩa là người đã có thời gian nhất định gắn bó với sự phát triển của Đà Nẵng và có kinh nghiệm trong việc tổ chức, quản lý, lãnh đạo trong công tác Đảng. Trước khi được bổ nhiệm làm Bí thư Thành ủy Đà Nẵng, ông Trương Quang Nghĩa đã từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong các cơ quan đảng, chính quyền. Ông là cán bộ giàu kinh nghiệm và tâm huyết với công việc.
Việc bổ nhiệm trên là hợp tình, hợp lý nhưng các đối tượng xấu vẫn không ngừng tuyên truyền, xuyên tạc, bôi xấu uy tín, danh dự của tân Bí thư Thành ủy Đà Nẵng, rộng hơn nữa là hướng đến việc phá hoại chiến dịch chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mọi hành động nhằm hạ uy tín, làm mất lòng tin của quần chúng nhân dân vào đội ngũ lãnh đạo là có tội với cách mạng và nhân dân.

Chỉnh đốn và nâng cao chất lượng đội ngũ lãnh đạo luôn là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng Cộng sản Việt Nam, được Đảng chú trọng thực hiện thường xuyên và liên tục. Do vậy, tôi thiết nghĩ, câu chuyện về thay đổi nhân sự ở Thành ủy Đà Nẵng vừa qua không những là điều hết sức bình thường mà còn rất hợp với ý Đảng, lòng dân và tình hình thực tiễn hiện nay.

NHỮNG LUẬN ĐIỆU VU CÁO VIỆT NAM VI PHẠM TỰ DO TÔN GIÁO CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LÀ VÔ CĂN CỨ VÀ XUYÊN TẠC SỰ THẬT


 Bức tranh toàn diện, trung thực và sống động về tình hình tôn giáo và chính sách của Nhà nước Việt Nam với tôn giáo đã được giới thiệu rộng rãi cho dư luận trong và ngoài nước với việc Ban Tôn giáo chính phủ cho công bố sách trắng “Tôn giáo và Chính sách tôn giáo ở Việt Nam” từ năm 2007. Vậy mà hiện nay trên các trang mạng xã hội vẫn đầy rẫy những bài viết của những tổ chức, cá nhân phản động, bất mãn, rêu rao cái luận điệu cũ rích khi cho rằng Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo. Đây thực sự là những nhận định vô căn cứ, bóp méo, xuyên tạc sự thật đang diễn ra trong nước một cách trơ trẽn. Thực tế, ngay từ khi mới ra đời, Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà đã có những chính sách đúng đắn về tôn giáo. Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu sáu vấn đề cấp bách cần giải quyết, trong đó có việc thực hiện “tín ngưỡng tự do, Lương Giáo đoàn kết”. Đây là quan điểm cơ bản mà sau đó đã được củng cố, phát triển xuyên suốt qua các hiến pháp sau này.
      Hiến pháp đầu tiên năm 1946 ngay sau khi Việt Nam giành được độc lập nêu rõ “Mọi công dân có quyền tự do tín ngưỡng”. Sau khi đất nước thống nhất, Hiến pháp năm 1980 đã ghi “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Gần đây nhất Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. 
      Nhìn lại lịch xử và thực tiễn hiện nay ở trong nước, không ai có thể phủ nhận rằng: Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều nỗ lực của trong việc đảm bảo trên thực tế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân và đạt được những kết quả quan trọng. Chỉ xin nêu ra vài thí dụ: Theo số liệu thống kê, hiện nay, ở Việt Nam có 13 tôn giáo với 37 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận, cấp đăng ký hoạt động. Ngoài các tôn giáo lớn du nhập từ nước ngoài, như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Bà-la-môn,... còn có các tôn giáo nội sinh, như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam,... Các tôn giáo ở nước ta, mặc dù độc lập về nghi lễ nhưng gắn bó với nhau trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
      Ở Việt Nam hiện có khoảng 24 triệu tín đồ tôn giáo, chiếm khoảng 27% dân số cả nước. Trong đó, chủ yếu là tín đồ Phật giáo (hơn 11 triệu người), Công giáo (gần 7 triệu người), Tin Lành (hơn 1 triệu người), Cao Đài (2,4 triệu người), Phật giáo Hòa Hảo (1,5 triệu người), Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam (hơn 1 triệu người); còn lại là tín đồ các tôn giáo khác, chiếm gần nửa triệu người. Số lượng chức sắc, nhà tu hành khá đông, khoảng 83 nghìn người; ngoài ra còn có 250 nghìn chức việc trông coi việc đạo ở khoảng 25 nghìn cơ sở thờ tự.Những sinh hoạt tôn giáo tập trung, các nghi lễ tập thể có tính bắt buộc của giáo luật các tôn giáo được tôn trọng. Một số lễ hội của các tôn giáo được tổ chức rầm rộ với quy mô lớn như Lễ hội Nô-en, Lễ Phật Đản, Lễ hội La Vang…

       Sự thật đó đã có sức thuyết phục mạnh mẽ đối với cộng đồng quốc tế. Với những gì chứng kiến khi đến Việt Nam, nhiều người nước ngoài đã ví Việt Nam như một bảo tàng tôn giáo của thế giới bởi sự phát triển đa dạng của các tôn giáo. Từ những phân tích và số liệu cụ thể trên, chúng ta đã có cơ sở quan trọng cả về lý luận và thực tiễn để phản bác lại những thông tin sai lệch về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, đấu tranh với những âm mưu của các thế lực thiếu thiện chí đang tìm cách lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo, tín ngưỡng để gây áp lực với Việt Nam, ngăn cản sự phát triển của các quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước.

LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, XUYÊN TẠC, BÓP MÉO ĐƯỜNG LỐI, QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ QUỐC PHÒNG - AN NINH, LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN


     Thời gian qua các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam trọng tâm là lĩnh vực quốc phòng - an ninh và lực lượng vũ trang. Chúng xác định đây là một trong những mục tiêu trọng yếu phải tập trung phá hoại ngay, làm suy yếu ngay. Tham vọng ngông cuồng và ảo tưởng của chúng là nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lĩnh vực quốc phòng - an ninh và lực lượng vũ trang. Chúng sử dụng nhiều thủ đoạn hết sức đa dạng, tinh vi và thâm độc, trong đó, thông tin xuyên tạc về lĩnh vực quốc phòng - an ninh, lực lượng vũ trang được sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhất để thực hiện mưu đồ trên.
Những thông tin và luận điệu xuyên tạc liên quan đến lĩnh vực quốc phòng - an ninh, lực lượng vũ trang mà các thế lục thù địch tung ra là những thông tin vu khống, bịa đặt, không đúng sự thật. Đó là những thông tin không có căn cứ khoa học hoặc những thông tin dựa trên những sự kiện quốc phòng - an ninh có thật nhưng  đã được chúng lập luận, bóp méo thay “trắng thành đen”, thêu dệt, thổi phồng một cách vụng về, nhằm xuyên tạc bản chất, hướng người nghe, người đọc đến những suy diễn tiêu cực, kích động người tiếp nhận thông tin tiến hành các hoạt động biểu tình, chống phá gây mất trật tự an toàn xã hội. Nội dung thông tin và luận điệu xuyên tạc hết sức đa dạng với những biểu hiện cấp độ khác nhau những chủ yếu vẫn là đòi “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an, phủ nhận nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang và sự nghiệp quốc phòng- an ninh. Chúng đặc biệt chú ý đến trạng thái tâm lý của quân và dân ta, của dư luận xã hội để tuyên truyền, xuyên tạc vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội và Công an; đặt lợi ích kinh tế đối lập với lợi ích quốc phòng - an ninh; đối lập giữa hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để thực hiện mưu đồ tuyên truyền, xuyên tạc, ngoài việc sử dụng các phương tiện truyền thống, hiện nay chúng triệt để lợi dụng in-tơ-nét với các trang mạng  xã hội, Facebook và Blog với khả năng siêu kết nối. Facebook đang là lựa chọn số một cho hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc của chúng. Đối tượng chúng hướng đến là các tầng lớp nhân dân, nhưng trọng tâm, trọng điểm là giới trẻ thanh niên, học sinh, sinh viên nhằm tạo lập lực lượng đối lập với Đảng, Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Các hoạt động được tiến hành ở mọi thời điểm, nhưng cường độ cao và quyết liệt nhất vẫn là vào các ngày lễ lớn của dân tộc, khi diễn ra sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các hoạt động đối ngoại, nhất là đối ngoại quốc phòng - an ninh, hoặc khi tình hình an ninh, chính trị - xã hội, tình hình biên giới, biển, đảo có những diễn biến phức tạp, nhạy cảm.  Mục đích của những thông tin và luận điệu xuyên tạc đó là làm xấu hình ảnh của Quân đội và Công an trước nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhằm tạo ra sự nghi ngờ, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào đường lối lãnh đạo, cách thức giải quyết sự việc liên quan đến quốc phòng - an ninh của Đảng và Nhà nước CHCHCN Việt Nam. Đồng thời, truyền bá tư tưởng, đạo đức, lối sống phương Tây vào Quân đội, Công an, làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ, lơi lỏng nhiệm vụ, rơi vào lối sống thực dụng, từng bước tác động nhằm làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc và truyền thống tốt đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ". Cùng các hoạt động khác với mục tiêu cuối cùng của chúng là phủ định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội và Công an, vô hiệu hóa Quân đội, Công an khi đất nước có biến động.

     Thiết nghĩ, là những công dân yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, trách nhiệm của chúng ta là tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh phản bác những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh, lực lượng vũ trang. Chúng ta cần xác định, đây là cuộc chiến lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng. Trong đó, lực lượng vũ trang nhân dân có vai trò rất quan trọng. Đặc biệt sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân làm nòng cốt cho toàn dân là nhân tố trực tiếp trong đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

CHỐNG THAM NHŨNG, SUY THOÁI LÀ TRÁCH NHIỆM CHÍNH TRỊ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân đang triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII và các nghị quyết Trung ương, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng - chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Lợi dụng tình hình dư luận xã hội đang bức xúc về tệ nạn tham nhũng, suy thoái của một số cán bộ, đảng viên, công tác xây dựng Đảng, ngăn chặn đẩy lùi tham nhũng, suy thoái của Đảng còn một số hạn chế, khuyết điểm, dẫn đến kết quả chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đặt ra.
Quốc gia nào cũng vậy, trong mỗi thời điểm lịch sử nhất định đều do một đảng cầm quyền lãnh đạo. Khi đảng nào cầm quyền thì người đứng đầu và các chức vụ quan trọng của chính quyền nhà nước đều do người của đảng đó đảm nhiệm; đường lối, chủ trương của đảng cầm quyền sẽ chi phối đường lối, chính sách của quốc gia. Dù là chế độ một đảng cầm quyền hay đa đảng thay nhau cầm quyền thì nạn tham nhũng, suy thoái vẫn thường xảy ra...
Điều quan trọng hơn hết là đảng nào có mục tiêu vì nước, vì dân, giáo dục, quản lý tốt cán bộ, đảng viên, thì có thể hạn chế đến mức thấp nhất nạn tham nhũng, suy thoái, không gây nên những tiêu cực lớn đối với xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ khi ra đời, lãnh đạo cuộc đấu tranh giành chính quyền, cán bộ, đảng viên của Đảng tuyệt đại đa số đều là những nhà cách mạng tự nguyện từ bỏ lợi ích bản thân, xả thân chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Nhiều tấm gương hy sinh oanh liệt của các nhà lãnh đạo Đảng, các cán bộ, đảng viên, mãi mãi lưu danh trong lịch sử vẻ vang của Đảng như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thị Minh Khai…
Trong suốt quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc xây dựng Chủ nghĩa Xã Hội vẫn xuất hiện. Những phần tử thiếu kiên trung với cách mạng, có biểu hiện dao động, cầu an đã bị đào thải. Nhưng đó chỉ là những trường hợp cá biệt. Đảng không vì thế mà yếu đi. Đảng càng trong sạch và ngày càng phát triển vững mạnh, được các tầng lớp nhân dân tin tưởng, tôn vinh vai trò lãnh đạo và tình nguyện chiến đấu dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng...
Thời chiến, khi mọi người đều dồn tâm lực vào việc đánh giặc cứu nước, được Bác Hồ và Đảng giáo dục, rèn luyện nên tuyệt đại bộ phận tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên ra sức phấn đấu hoàn thành chức trách, nhiệm vụ, xứng đáng là những người cách mạng chân chính. Trong hai cuộc chiến tranh giải phóng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thật sự xứng đáng là đội tiên phong cách mạng lãnh đạo toàn dân tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, đánh thắng hai tên đế quốc lớn mạnh, giành độc lập tự do, thống nhất cho quốc gia dân tộc.
Trong kháng chiến, đảng viên cộng sản là những người tiên phong nhận nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm, chấp nhận hy sinh bản thân mình để giành thắng lợi cho cách mạng. Họ đã trở thành những anh hùng bất tử, nêu tấm gương sáng cho bộ đội và nhân dân noi theo quyết chiến quyết thắng với quân thù. Khi đó, cũng có một số người phạm vào tội lỗi tham ô, lãng phí, quan liêu. Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án, gọi đó là “giặc nội xâm”, là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến. Tội lỗi đó làm hại đến tính mệnh và tài sản của nhân dân, làm mất thanh danh, uy tín của Đảng và Nhà nước.
Những kẻ phạm tội đó, dù ở cương vị nào cũng phải đem ra xét xử theo đúng pháp luật để đề cao phép nước. Bản án tử hình dành cho Giám đốc Nha Quân nhu Trần Dụ Châu về tội lợi dụng chức quyền nhận hối lộ, tham ô, sa đọa, thể hiện sự nghiêm minh của Đảng, Chính phủ trong thực thi pháp luật.
Chính vì sự tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên và việc Đảng, Nhà nước xử lý không khoan nhượng đối với những người phạm tội với cách mạng, với nhân dân, đã khiến cho Đảng trong sạch vững mạnh, lãnh đạo kháng chiến thắng lợi.
Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, biết bao cán bộ, đảng viên Quân đội ngày đêm ở nơi xa xôi biển đảo, biên cương canh giữ chủ quyền đất nước; nhiều cán bộ, đảng viên Công an dũng cảm chiến đấu trên mặt trận thầm lặng, giữ gìn an ninh chính trị và cuộc sống yên bình cho nhân dân; những cán bộ, đảng viên trực tiếp sản xuất vất vả trong nhà máy, trên đồng ruộng; những cán bộ, đảng viên lao động trí óc ngày đêm miệt mài nghiên cứu, sáng tạo, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp chung, không tính toán thiệt hơn, không đòi hỏi sự ưu ái cho riêng mình.
Như vậy, từ thực tế nền chính trị các quốc gia trên thế giới và lịch sử chế độ chính trị Việt Nam thời hiện đại đã chứng tỏ chế độ một đảng cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng, suy thoái trong xã hội. Vấn đề dân chủ trong xã hội, đây là một vấn đề lớn, không một quốc gia nào dám tự coi là đã thực hiện một cách hoàn hảo. Mỗi quốc gia, dân tộc thực hiện dân chủ xã hội tùy thuộc vào tình hình chính trị - xã hội, sự hoàn thiện  hệ thống pháp luật, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, truyền thống, phong tục, tập quán dân tộc và trình độ dân trí… Những luận cứ lịch sử trên đã chứng minh Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là lực lượng trung thành với lợi ích lớn lao của cả dân tộc, chính vì lẽ đó mà công cuộc đấu tranh chống tham nhũng sẽ thành công nếu như mỗi chúng ta đoàn kết, tin tưởng, không để những luận điệu xuyên tạc của bọn cơ hội chính trị thâm nhập vào đời sống, làm mất sự ổn định chính trị, kinh tế, xã hội ảnh hưởng tới cuộc sống nhân dân ./.


THẾ HỆ TRẺ CẦN NÊU CAO CẢNH GIÁC KHI SỬ DỤNG INTERNET

     Để chống phá cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch luôn xác định: “Diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng là then chốt, mũi đột phá, là “cái cầu để dẫn vào trận địa”. Chúng cho rằng “một đô la chi cho tuyên truyền có tác dụng ngang với 5 đôla chi cho quốc phòng”. Níchxơn trong cuốn sách: Chiến thắng không cần chiến tranh (1999) đã viết: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất”, “toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng”. Trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch quan tâm nhất là kích động “dân chủ”, “nhân quyền”, “vấn đề dân tộc”, “vấn đề tôn giáo”, đặc biệt là làm cho chúng ta tự diễn biến, tự chuyển hoá. Chúng coi thế hệ trẻ (thanh niên) là mục tiêu trọng yếu, tấn công họ là mũi xung kích để chọc thủng mặt trận chính trị, tư tưởng của cách mạng Việt Nam.
     Thế hệ trẻ là một bộ phận quan trọng, là vốn quý và thế mạnh trong chiến lược phát triển đất nước. Tuy nhiên, do đặc điểm tâm lý lứa tuổi và một phần do hạn chế về nhận thức, họ là đối tượng trọng điểm để các thế lực thù địch, phản động mua chuộc, lôi kéo, kích động…, nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.
Công nghệ thông tin ngày nay đang phát triển với tốc độ “chóng mặt” đã làm thay đổi nhiều mặt của đời sống xã hội, trong đó có tác động lớn tới nhận thức và hành động của thế hệ trẻ ở nước ta. Các thế lực thù địch đã nắm bắt, lợi dụng những mặt trái của công nghệ thông tin, cụ thể là lợi dụng khả năng tuyên truyền và phản tuyên truyền qua Internet để thực hiện âm mưu chiến lược “diễn biến hòa bình” với nhiều thủ đoạn mới tinh vi, xảo quyệt. Đối tượng mà các thế lực thù địch “ưu tiên” tập trung chống phá bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” trên mạng Internet không phải ai khác, chính là thế hệ trẻ. Điều này trực tiếp đặt ra yêu cầu cho mỗi công dân trẻ tuổi: phải có bản lĩnh và kỹ năng sử dụng mạng Internet an toàn; đặc biệt phải nghiêm túc tự xây dựng cho mình ý thức phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” trên mạng Internet.
     Thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay phần lớn đều đã và đang tiếp cận với mạng Internet với nhiều hình thức khác nhau, nghĩa là họ đang trong “tầm ngắm” của các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” trên mạng Internet. Nếu không có bản lĩnh vững vàng, không được trang bị những kỹ năng cơ bản và lượng kiến thức cần thiết để lựa chọn, xử lý và sử dụng thông tin thì không ít bạn trẻ đều có thể trở thành “nạn nhân” của những thủ đoạn “diễn biến hòa bình” từ các thế lực thù địch. Biết rằng, sự bùng nổ của công nghệ thông tin, nhu cầu sử dụng mạng Internet để học tập, giao lưu là khách quan, một xu thế tất yếu để hội nhập và phát triển.
     Một phần do những sơ hở, buông lỏng trong công tác quản lý thông tin mạng ở nước ta, các thế lực phản động, cơ hội, chống đối chính trị luôn triệt để lợi dụng những đặc điểm riêng biệt của thanh niên để thực hiện các đòn tấn công thâm hiểm vào tâm lý của họ. Đó là tâm lý nhạy cảm, ham tiếp cận cái mới, thích tự do, tự khẳng định mình… của người trẻ tuổi, trong khi vốn sống và nhận thức chính trị-xã hội của họ còn nhiều hạn chế. Bằng việc đẩy lên mạng các thông tin sai lệch, xuyên tạc, hoặc đúng nhưng bị thổi phồng, bóp méo trên các trang web, các blog, các mạng xã hội, chúng đã tác động mạnh mẽ, nhiều chiều đến thanh niên. Chúng sử dụng các sản phẩm văn hóa đồi trụy, phản động với mục đích đầu độc quần chúng nói chung, đặc biệt là thế hệ thanh niên ở nước ta nói riêng, làm chuyển đổi giá trị thẩm mỹ, thị hiếu nghệ thuật, chuyển đổi các thang bậc giá trị của xã hội theo chiều hướng xấu; âm mưu biến thế hệ trẻ thành công cụ và lực lượng xã hội chủ yếu của “diễn biến hòa bình”. Qua đó mà thanh niên rất dễ bị dụ dỗ, lôi kéo, tiêm nhiễm văn hóa, lối sống thực dụng, ngoại lai; tự hình thành tâm lý ham thích hưởng thụ, thủ tiêu trách nhiệm, nghị lực sống của bản thân, dẫn đến sao nhãng mục tiêu, lí tưởng phấn đấu; đưa họ đến với nhận thức và việc làm tiêu cực, cổ súy cho cái sai, cái bất hợp lý. Trong thực tế, đã có một bộ phận thanh niên đua đòi theo trào lưu, lối sống thực dụng, đòi xét lại quá khứ; một số người đã phụ họa với những quan điểm sai trái, phát ngôn theo luận điệu của các thế lực thù địch, phủ định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; số khác bị lôi kéo, kích độngđã tham gia vào một số vụ gây rối hoặc tiếp tay cho các thế lực thù địch phản động gây mất an ninh trật tự xã hội, chống đối chính quyền. Họ có thể vướng vào vòng lao lý. Một bộ phận thanh niên khác lại có biểu hiện sống ích kỷ, sống ảo, thiếu trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội khi họ quá sa đà vào các hoạt động trên không gian mạng. Cuộc sống của họ có thực sự bảo đảm sự hạnh phúc; họ thực sự là người có ích đối với xã hội (?) khi đã bị rơi vào “cạm bẫy” Internet với thế giới “game”, thế giới ảo, thế giới đảo lộn thực hư vì những thông tin hư thực???...
Rõ ràng hậu quả, tác hại của việc sử dụng mạng Internet  không đúng cách đối với thế hệ trẻ là thật sự khó lường.

     Do đó, một bạn trẻ, nếu thật sự sống có lý tưởng và có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội phải biết cách khai thác, sử dụng Internet an toàn, tự hình thành “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” của mình trước những tác động nhiều chiều của thông tin trên mạng. Các bạn trẻ hãy sống và vươn lên bằng “Tâm trong - Trí sáng - Hoài bão lớn”. Chúng ta cùng nêu cao cảnh giác, cẩn trọng trong việc lựa chọn, xử lý thông tin để đáp ứng nhu cầu thiết thực và cuộc sống của chính mình, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch lợi dụng Internet để chống phá cách mạng Việt Nam.